• About us
  • CÔNG TRÌNH
  • Ảnh Thực Tế & Blog
    • Facebook
    • Instagram
    • Youtube
    • Retail
    0.00 ₫(0 items)
    • About us
    • CÔNG TRÌNH
    • Ảnh Thực Tế & Blog
      • Facebook
      • Instagram
      • Youtube
      • Retail

    Table of Contents

        • Tại sao người Do Thái thông minh?
        • 10 Câu Nói Của Người Do Thái Khiến Bạn Thức Tỉnh
    • 10 Câu Nói Của Người Do Thái Khiến Bạn Thức Tỉnh
      • 10 CÂU NÓI HAY VÀ Ý NGHĨA CỦA NGƯỜI DO THÁI LÀM BẠN THAY ĐỔI
        • Giải mã sự thành công của Israel và người Do Thái – KDI Education
        • Người Do Thái – Wikipedia tiếng Việt
      • Israel[sửa | sửa mã nguồn]
        • Người Do Thái là ai? Tại sao họ thông minh nhất Thế giới?
      • Người Do Thái (tiếng Hebrew: יְהוּדִים ISO 259-3 Yehudim, phát âm [jehuˈdim]) là một sắc tộc-tôn giáo có nguồn gốc từ người Israel trong lịch sử
        • Báu vật của người Do Thái: 2 tinh thần đặc biệt tạo nên sức mạnh phục quốc | Giới trẻ
    • Báu vật thứ chín: Tính thích nghi, ưa mạo hiểm
    • Shai Agassi – Thế hệ nhập cư thứ 2 đã làm nên “phép màu” xe hơi điện ở Israel
    • Báu vật thứ mười: Tinh thần dân tộc
        • Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái (P.1)
        • Vì sao người Do Thái, người Israel thông minh nhất thế giới
    • Người Do Thái, người Israel thông minh nhất thế giới
      • Vai trò của bà mẹ Do Thái
      • Hệ thống giáo dục phổ thông
      • Xã hội Do Thái từ rất sớm đã coi trọng việc xóa mù chữ, sách và người có học thức

    Tại sao người Do Thái thông minh?

    Chúng ta hay nói rằng người Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới. Tuy nhiên, đây không phải là nhận định vô căn cứ mà đã được chứng minh bằng khoa học.

    Năm 2005, một nghiên cứu cho thấy những người Do Thái có kỹ năng giao tiếp và tính toán trội hơn hẳn so với những cộng đồng dân tộc khác.

    Trong thế kỷ 20, mặc dù người Do Thái chỉ chiếm 2% dân số Mỹ nhưng lại có đến 27% nhà khoa học của nước này đoạt giải Nobel là người Do Thái. Không những thế, khoảng 25% nhà toán học đoạt giải Fields Medal (có giá trị tương tự Nobel trong toán học), 25% số người đoạt giải ACM Turing Award (mảng máy tính), 9/19 nhà vô địch cờ vua… là người Do Thái.

    Chỉ số IQ trung bình của người Do Thái theo nhiều nghiên cứu là vào khoảng 110 so với mức 100 của toàn cầu. Dù chỉ chênh lệch 10 nhưng tỷ lệ sản sinh thiên tài giữa 2 cấp độ lên tới khoảng 120-150 lần.

    Số liệu năm 2015 cho thấy người Do Thái chiếm chưa đến 0,2% tổng dân số toàn cầu với khoảng 14,3 triệu người. Tuy nhiên ngay từ thế kỷ 19, khoảng 1/4 số nhà khoa học trên thế giới đã là người Do Thái. Hàng loạt những cái tên như nổi tiếng Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch… đều là người Do Thái.

    Vậy tại sao người Do Thái lại thông minh , theo cách hiểu của các nhà khoa học?

    Luận điểm 1: Chúa muốn người Do Thái thông minh?

    Trước khi nói về người Do Thái, chúng ta cần nói về tôn giáo của họ bởi dân tộc này khá sùng đạo. Đây là một trong những yếu tố khiến người Do Thái không mất đi bản sắc cũng như bị hòa tan với các dân tộc, tín ngưỡng khác.

    Đạo Do Thái ra đời cách đây khoảng 3.000 năm và là tín ngưỡng lâu đời thứ 2 trên thế giới sau đạo Hindu (4.000 năm). Tuy nhiên Hindu là đạo đa thần nên có thể nói đạo Do thái là tín ngưỡng độc thần lâu đời nhất thế giới. Theo đó, người Do Thái chỉ thờ một vị chúa trời duy nhất và chắc chắn không có vị thánh hay chúa nào là người cả.

    Điều này khiến Thiên chúa giáo, vốn có ảnh hưởng sâu rộng tại Phương Tây và trên thế giới thù ghét người Do Thái bởi họ coi Đức chúa Jesus là con của chúa trời. Dẫu vậy, nhờ quan điểm này mà tín ngưỡng trong cộng đồng Do Thái không dễ dàng bị hiểu theo những nghĩa khác nhau, tạo nên những mâu thuẫn trong xã hội.

    Trong cuốn kinh Torah ghi lại những điều răn của đức tiên tri Moses có ghi lại rằng người Do Thái là dân tộc được chúa trời chọn lựa (Chosen People) để truyền đạt ý chúa, khai sáng và dẫn dắt cho các dân tộc khác.

    Theo nhiều chuyên gia khoa học, quan điểm tôn giáo này có lẽ đã ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội Do Thái khi tạo động lực cho dân tộc này luôn phấn đấu, khai sáng bản thân để hoàn thành nhiệm vụ mà đức chúa giao cho.

    Đặc biệt, quan điểm này cũng giải thích tại sao người Do Thái mê kiếm tiền bởi sự giàu có là hệ quả kèm theo của lao động sáng tạo và khai sáng.

    Bên cạnh đó, đạo Do Thái cũng khá khác biệt so với nhiều tôn giáo khác khi không ghi lại quá nhiều những điều răn cứng nhắc hay những luật lệ cổ hủ buộc mọi người phải tuân theo. Thay vào đó, những cuốn kinh Torah của người Do Thái thường đặt ra các câu hỏi gợi mở sự suy nghĩ và sáng tạo cũng như có nhiều câu trả lời khác nhau tùy thuộc hoàn cảnh.

    Trong những bữa cơm ngày lễ cuối tuần (Sabbath) hay khi sum họp gia đình, cảnh mọi người thảo luận về kinh Torah, tranh luận những lý lẽ gợi mở trong đó là điều bình thường và có lẽ đây là lý do khiến người Do Thái có suy nghĩ khá sâu sắc về cuộc sống.

    Luận điểm 2: Cách đây 2.000 năm, đến 90% người Do Thái đã biết chữ

    Một nguyên nhân nữa khiến người Do Thái thông minh hơn các dân tộc khác là do họ rất coi trọng chuyện học hành.

    Kinh Tamud từ cách đây hơn 2.000 năm của người Do Thái đã yêu cầu các bậc phụ huynh phải dạy con biết đọc, biết viết từ năm lên 6 tuổi. Nói cách khác, việc giáo dục con cái từ nhỏ không còn là vấn đề đạo đức, trách nhiệm của nhà nước hay đơn giản là lo lắng cho tương lai con trẻ. Người Do Thái đã nâng tầm giáo dục thành một loại giáo điều trong tín ngưỡng.

    Rõ ràng, chẳng có ông bố bà mẹ Do Thái nào dám không giáo dục con từ năm lên 6 nếu không muốn bị cộng đồng xa lánh hoặc bị chỉ trích vì vi phạm giáo điều.

    Kết quả là từ hơn 2.000 năm trước, có đến 90% số người Do Thái thoát khỏi nạn mù chữ. Nếu tỷ lệ trên không mấy ấn tượng với bạn thì xin nhắc lại rằng cách đây 2.000 năm, đa phần người Do Thái là nông dân, du mục, thậm chí lang thang nay đây mai đó.

    Ấn tượng hơn nữa, nếu bạn biết rằng hầu hết người dân Châu Âu, Bắc Phi và Trung Đông thời đó là mũ chữ thì điều mà người Do Thái làm được quả là phi thường. Thời kỳ đó, biết chữ là điều khá xa xỉ và chỉ có tầng lớp tăng lữ, quý tộc mới có điều kiện được học. Những người dân thuộc tầng lớp dưới không có đủ thời gian cũng như mục đích để học chữ khi họ còn mải kiếm sống hoặc sống sót.

    Với tỷ lệ biết chữ cao, người Do Thái đương nhiên tham gia nhiều vào ngành thương nghiệp cũng như được các thương nhân tin dùng khi biết tính toán.

    Ngoài ra, cuốn kinh Do Thái bằng tiếng Hebrew cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng cho việc giáo dục cũng như hiểu biết của dân tộc này.

    Do bị mất nước từ sớm và phải sống lang thang nhiều nơi trước khi Israel được thành lập, bất kỳ người Do Thái nào cũng phải biết chữ để có thể đọc kinh ở bất kỳ nơi đâu, trong mọi hoàn cảnh nào. Đây là điều dễ hiểu khi người Do Thái khá sùng đạo.

    Bên cạnh đó, do phải sống lang thang nhiều nơi nên đương nhiên người Do Thái biết nói ít nhất 2 ngôn ngữ trở lên. Theo các nhà khoa học, thông thường những người biết nhiều thứ tiếng thường thông minh hơn so với người bình thường.

    Việc người Do Thái mất nước từ sớm khi người Assyria chinh phục vương quốc Israel và khiến người dân Do Thái phải lưu vong vào năm 722 trước công nguyên đã khiến dân tộc này phải tự lực cánh sinh, vượt lên trên hoàn cảnh để sinh tồn. Có lẽ, sự thiếu may mắn khi mất nước đã khiến người Do Thái buộc phải trở nên thông minh hơn và những cá thể kém sẽ bị đào thải nhanh chóng.

    Luận điểm 3: Duy trì nòi giống, bảo tồn và sàng lọc gen

    Người Do thái thông minh, đó là sự thật. Tuy nhiên, sự thông minh này không chỉ diễn ra trong 1 thế hệ mà được chứng minh di truyền qua nhiều đời.

    Một nghiên cứu năm 2009 cho thấy người Do Thái có tỷ lệ tương đối cao khi mắc các bệnh như rối loạn thần kinh Tay Sachs khiến cơ thể tử vong trước 5 tuổi, hay bệnh Canavan khiến trẻ mất trước 2 tuổi. Nghiên cứu này cho thấy việc người Do Thái thường xuyên kết hôn trong cộng đồng và hiếm khi lấy người ngoài đạo đã khiến các cặp gen xấu trong cộng đồng có khả năng kết hợp cao hơn, tạo nên tỷ lệ mắc bệnh nhiều hơn ở con cái.

    Ngược lại, chính vì yếu tố này mà những gen trội hay thông minh của các đời trước lại có khả năng cao được di truyền qua đời sau, thậm chí còn được tăng cường hơn trước.

    Nghiên cứu trên cho rằng những cặp gen di truyền đặc biệt được duy trì trong cộng đồng người Do Thái. Trong khi những cá thể yếu bị đào thải bởi bệnh tật và tử vong khi còn trẻ thì những cá thể thông minh, khỏe mạnh được sàng lọc và dần lớn mạnh cho đến ngày nay.

    Ví dụ cha mẹ có gen tương ứng AA/aa và BB/bb, trong đó AA và BB là gen tích cực còn aa,bb là gen tiêu cực. Khi AAaa kết hợp với BBbb, đời con sẽ cho ra 4 khả năng là AA/BB, AA/bb, aa/BB, aa/bb.

    Khi đó cặp aa/bb sẽ biểu hiện kém và sớm bị đào thải trong cộng đồng do bệnh tật hay không thích nghi được với môi trường, trong khi cặp AA/BB sẽ có biểu hiện tích cực vượt trội so với đời trước. Hai cặp còn lại tiếp tục mang theo những gen trội của cha hoặc mẹ để truyền cho đời sau.

    Nói cách khác, chính sự không pha loãng huyết thống trong cộng đồng Do Thái đã giữ gìn được những đặc tính gen hiếm có của dân tộc này.

    Không dừng lại ở đó, việc duy trì nòi giống và những gen trội tích cực trong cộng đồng Do Thái đã được nâng tầm thành giáo điều. Thông thường, các dân tộc và quốc gia khác thường khuyến khích, khuyên răn các bạn trẻ lập gia đình phải xứng đôi vừa lứa, tâm đầu ý hợp… nhằm sàng lọc gen xấu và nhân giống gen tốt.

    Tuy nhiên việc sàng lọc này thậm chí đã được đưa vào kinh Do Thái khi các giáo sĩ, người có uy tín trong cộng đồng xã hội cũng như dẫn dắt tâm linh cho mọi người được quy định phải là những người thông minh nhất, có kiến thức uyên bác.

    Từ Giáo sĩ (Rabbi) trong tiếng Do Thái còn có nghĩa là “người giỏi giang” hay “người thầy”, qua đó chỉ ra vai trò quan trọng của các giáo sĩ này.

    Việc các giáo sĩ là những người uyên bác không có gì đáng nói nếu so với nhiều tín ngưỡng khác, điểm đặc biệt ở đây là các giáo sĩ này được phép lấy vợ và thậm chí có rất nhiều con. Do có uy tín cao trong cộng đồng Do Thái nên các giáo sĩ này rất dễ lấy vợ, thậm chí còn được phép lựa chọn “mối” hôn nhân. Thông thường những giáo sĩ này sẽ chọn đối tượng cũng thuộc tầng lớp giáo sĩ, sau đó mới chuyển sang các gia đình thương nhân.

    Bằng cách này, những gen ưu tú trong tầng lớp tinh hoa của người Do Thái được bảo tồn và liên tục di truyền.

    Thậm chí trong kinh thanh Do Thái có nhiều đoạn còn khuyến khích các gia đình nếu có tiền hãy cho con gái lấy giáo sĩ hoặc học giả. Rõ ràng, tri thức và những gen thông minh được người Do Thái hết sức coi trọng.

    Một yếu tố nữa khiến người Do Thái thúc đẩy được các gen tốt trong cộng đồng là quan điểm khuyến khích sinh sản đối với những gia đình có điều kiện, trong khi các cặp vợ chồng khó khăn thì lại được khuyên sinh đẻ có kế hoạch nhằm đảm bảo con cái sinh ra được nuôi dạy tốt nhất có thể. Bằng cách này, các gen xấu được sàng lọc trong khi những gen thông minh được khuyến khích nhân rộng.

    Luận điểm 4: Thông minh bắt đầu từ ăn uống

    Nói về trí thông minh của người Do Thái thì không thể bỏ qua vấn đề ăn uống, bởi đây là yếu tố vô cùng quan trọng đóng góp cho sự phát triển của dân tộc này.

    Người Do Thái hầu như chỉ ăn đồ Do Thái (Kosher) được làm theo cách riêng của họ. Ví dụ thịt động vật làm theo cách Do Thái phải lấy hết tiết một cách nhanh nhất, khiến con vật chết nhanh nhất mà không đau đớn. Thịt phải ngâm rửa cho hết sạch máu.

    Nguyên nhân của việc này là người Do Thái coi rằng dòng máu thú vật chứa thú tính và con người có thể trở nên trì độn, thoái hóa giống nòi nếu ăn chúng.

    Tuy vậy, các nhà khoa học lại có những cách giải thích hợp lý hơn cho các nghi lễ rườm rà trong đồ ăn của người Do Thái. Ví dụ việc không được uống sữa hay dùng thực phẩm từ sữa khi ăn mà phải dùng trước 30 phút hay sau ăn 6 tiếng. Nguyên nhân là sữa có nhiều đạm gây khó tiêu và khó hấp thụ cho cơ thể.

    Việc không ăn chung thịt với cá là do chúng phản ứng lại lẫn nhau trong hệ tiêu hóa, không tốt cho sức khỏe. Trong khi đó, quy định không ăn thịt động vật đã bị dã thú cắn là để tránh nhiễm trùng cũng như đảm bảo vệ sinh.



    AB


    Theo Nhịp Sống Kinh Tế

    10 Câu Nói Của Người Do Thái Khiến Bạn Thức Tỉnh

    10 Câu Nói Của Người Do Thái Khiến Bạn Thức Tỉnh

    Chắc hẳn bạn đã biết người Do Thái luôn có những triết lý sống và phát triển bản thân sâu sắc khiến nhiều người nễ phục. Theo đó là những thành công trên phương diện nông nghiệp, khoa học kĩ thuật vượt xa so với một phần còn lại của thế giới.

    Tuy vậy ít ai biết được rằng người Do Thái là một sắc tộc tôn giáo, là một dân tộc có nguồn gốc từ người Israel, còn gọi là người Hebrew.

    Người Do Thái đã trải qua một lịch sử lâu dài bị đàn áp và thảm sát trên nhiều vùng đất khác nhau. Dân số suy giảm và phân bố dân cư của họ thay đổi qua nhiều thế kỷ.

    Họ buộc phải di dân sang các quốc gia khác. Cũng chính vì vậy mà họ buộc phải học tập ngôn ngữ và làm quen với văn hóa, truyền thống ở các vùng đất mới nếu không muốn bị truy lùng và giết chết. Có thể tưởng tượng để làm được điều này họ đã phải nổ lực và vượt qua mọi rào cản vô cùng khó khăn nhằm phát triển bản thân.

    Trong cuộc sống của họ luôn có những câu nói, triết lý lặp đi lặp lại mọi phút giây để có thể thức tỉnh, phát triển và hoàn thiện bản thân. Nếu không thay đổi không phát triển đồng nghĩa với việc tụt hậu hoặc thậm chí là cái chết.

    Trong bài viết ngày hôm nay List Sách xin giới thiệu đến các bạn 10 câu nói hay và ý nghĩa của người Do Thái giúp bạn tìm lại bản thân và sống tốt hơn.

    10 CÂU NÓI HAY VÀ Ý NGHĨA CỦA NGƯỜI DO THÁI LÀM BẠN THAY ĐỔI

    1. Một cốc nước sạch vì một giọt nước bẩn mà trở nên vẩn đục, nhưng một cốc nước đục không thể vì một giọt nước sạch mà trở nên tinh khiết.

    2. Nếu bạn thực sự tài năng, thì bạn sẽ không sợ mình không may mắn.

    3. Đừng sợ đi chậm. Chỉ sợ đứng yên.

    4. Trên đời không có sự phân biệt rõ ràng giữa bi kịch và hỉ kịch, nếu bạn có thể bước ra từ bi kịch, đó là hỉ kịch. Nếu bạn chìm đắm mãi trong hỉ kịch, đó là bi kịch.

    5. Nếu không đọc sách, đi vạn dặm đường chẳng qua cũng chỉ là một người đưa thư.

    6. Cái khuy áo đầu tiên sai, cái sau cùng khó mà chữa được.

    7. Bạn bè thực sự không phải là những người có thể ngồi với nhau nói chuyện cả ngày không hết mà là những người ngay cả khi chẳng nói với nhau câu nào vẫn không cảm thấy ngại ngùng.

    8. Ngựa thường dễ bị khuỵu chân trên những con đường đất mềm, con người dễ ngã gục trong những lời đường mật.

    9. Đừng sợ rằng bạn không biết một cái gì đó. Hãy sợ rằng bạn không chịu tìm hiểu về nó.

    10. Thời gian tốt nhất để trồng cây là vào 20 năm trước. Thời gian tốt thứ hai là ngay bây giờ.

    Hy vọng với 10 câu nói hay của người Do Thái trên có thể giúp bạn thay đổi và phát triển bản thân mỗi ngày, vượt qua mọi khó khăn trở ngại trong cuộc sống, để có một cuộc sống hạnh phúc và thành công hơn.

    Bạn có thể tham khảo thêm Top 3 quyển sách hay về thành công và trí tuệ người Do Thái

    Tổng hợp bởi List Sách

    Xem thêm bài viết khác: đặt pass cho folder đơn giản

    Giải mã sự thành công của Israel và người Do Thái – KDI Education

    Tác giả: Hoàng Anh Tuấn

    Thành công của người Do Thái nhiều người đã biết, đã nghe từ lâu và có thể kể cả ngày, cả tháng cũng không hết. Là người đã tìm hiểu câu chuyện này cả chục năm nay, càng đi sâu tìm hiểu về những thành công của Israel và người Do Thái, tôi càng thấy phức tạp nhưng cũng hết sức thú vị. Chuyến đi Israel lần này, ngoài các công việc thường lệ, rất nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi, thảo luận với nhiều người, nhiều giới, nhiều nơi khác nhau giúp tôi kiểm chứng, củng cố thêm các nhận định trước đây của mình; biết thêm nhiều vấn đề mới; đồng thời cũng xóa bỏ một số các định kiến một chiều, phiến diện.

    Có rất nhiều câu hỏi đeo đẳng trong suốt quá trình tìm hiểu để có câu trả lời thấu đáo, đại loại như:

    1. Tại sao chỉ chiếm một phần nhỏ của dân số thế giới, nhưng người Do Thái lại có sự thông tuệ vượt thời gian, hơn hẳn các dân tộc khác trên thế giới? Nếu tính theo chỉ số IQ, chỉ số trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới. Tuy mức chênh lệch IQ chỉ là 10, nhưng tỷ lệ thiên tài trong nhóm những người có IQ 110 cao hơn nhóm có chỉ số IQ 100 tới 120-150 lần!

    2. Phải chăng người Do Thái có “gien” thông minh hơn người và “gien” này được lưu giữ và truyền từ đời này qua đời khác?

    Câu chuyện này đã được nhiều nhà khoa học âm thầm nghiên cứu để tìm câu trả lời thấu đáo. Tuy nhiên, người Do Thái lại “bác bỏ” điều nay, cho rằng sở dĩ người Do Thái thành công là do điều kiện, hoàn cảnh bắt buộc họ phải nỗ lực, sáng tạo và vươn lên không ngừng để thích nghi với hoàn cảnh. Vậy thực, hư câu chuyện này ra sao?

    3. Nếu như có “gien” Do Thái như vậy thì “gien” này được “lưu giữ” và phát triển ra sao từ thời “Cụ Tổ” của người Do Thái đến nay và trong hoàn cảnh họ bị ly tán, tha phương cầu thực?

    Người Do Thái hiện nay đều coi Thủy tổ của mình là ông Abraham (và cũng là của người Hồi giáo – Người Hồi giáo gọi là Ibrahim) ra đời cách đây khoảng 4000 năm, và Nhà Tiên tri Moses, ra đời cách đây khoảng 3600 năm. Ông Mosses đã dẫn dắt các nô lệ người Do Thái chạy trốn khỏi Ai Cập và đến khu vực Bắc Israel hiện nay, thống nhất 12 bộ lạc khác để lập ra nhà nước Do Thái. Hiện nay Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái. Để dễ hình dung, nếu có một nước khác có đặc trưng tương tự như Israel, chẳng hạn Trung Quốc, thì đặc trưng nước đó sẽ là: Người Trung Quốc, nước Trung Quốc, Đạo Trung Quốc. Nhưng trên thực tế ta thấy: người Hán, nước Trung Quốc và Đạo Khổng.

    4. Tại khu vực hiện gồm phía Bắc Ai Cập, lãnh thổ Israel, Palestine, Gioóc-đa-ni hiện nay, khu vực phía Nam Syria, và phía Đông Bắc Iraq vốn trước đây là khu vực tranh chấp quyết liệt giữa bộ lạc Do Thái với các bộ lạc khác trong khu vực, cũng như giữa các đế chế lân bang với nhau như Roma, Assyria, Babilon, Ottoman… nhằm kiểm soát khu vực đồng bằng ven biển Israel và khu đồi cao Jerusalem để cho được gần với Đức Chúa trời. Sau sự kiện Ngôi đền thứ nhất của người Do Thái bị đốt năm 586 trước Công Nguyên thì mục tiêu xâm lược là để chiếm miền đất thánh Jerusalem, nơi cả 3 tôn giáo (Do Thái, Thiên chúa, Hồi giáo) đều coi là đất thiêng của mình.

    Vậy tại sao trong khi hầu hết các bộ tộc du mục khác bị đồng hóa, hoặc bị tuyệt diệt, nhưng người Do Thái lại “thoát” được nạn này (tuy rằng người Do Thái cũng trải qua nạn diệt chủng Holocaust và một số cuộc truy sát tập thể trong quá khứ)? Vậy họ đã “thoát” bằng cách nào?

    5. Tại sao người Do Thái lại có truyền thống hiếu học và tỷ lệ biết chữ rất cao so với những dân du mục cùng thời? Tại sao người Do Thái lại đi tiên phong trong rất nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, luật, khoa học chính trị, công nghiệp giải trí…?

    Từ hàng ngàn năm trước công nguyên trẻ em Do Thái hầu hết biết đọc biết viết, và khi lưu lạc ở châu Âu, người Do Thái cũng có tỷ lệ biết đọc, biết viết cao hơn người bản địa. Cần nhớ, trước thời kỳ Phục Hưng cả châu Âu chìm đắm trong u muội, tỷ lệ mù chữ lên tới 80-90% dân số. Đến những năm 1930 của thế kỷ trước, người Do Thái gần như độc quyền trong lĩnh vực nghiên cứu năng lượng nguyên tử, thậm chí thời kỳ đó người ta còn gọi ngành khoa học này là “ngành khoa học Do Thái”.

    Nhìn rộng hơn, không chỉ người Do Thái quan tâm đến chuyện học hành của con cái, mà người Đông Á, kể cả Việt Nam, cũng vậy và có thể kể ra không ít các tấm gương thành công đáng ngưỡng mộ. Nhiều gia đình sẵn sàng bán nhà, bán cửa để đầu tư chuyện học hành của con cái. Tuy nhiên đạt đến đỉnh cao trí tuệ như Albert Einstein, Karl Marx, Noam Chomski và rất nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel gốc Do Thái lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Tại sao người Do Thái làm được chuyện đó?

    6. Trên thế giới đã từng có dân tộc nào bị trục xuất, sống lưu vong trên hai ngàn năm mà vẫn giữ được bản sắc, tiếng nói, chữ viết và tập tục của mình như người Do Thái không?

    7. Các giáo sĩ (Rabbi), Hội đồng giáo sĩ và những người Do Thái chính thống là những người có địa vị và tiếng nói quan trọng trong xã hội. Vậy họ có vai trò ra sao trong việc duy trì tập tục, bản sắc và “nòi giống” Do Thái?

    8. Tại sao mô hình Kibbudz của người Do Thái lại thành công và có sức sống kỳ diệu ở Israel, trong khi mô hình này lại không thành công hoặc không thể thành công ở các quốc gia khác. Cốt lõi tạo nên thành công của các Kibbudz là gì?

    9. Khi người Do Thái được thực hiện giấc mơ “Phục quốc” năm 1948, hàng trăm ngàn người Do Thái từ trên 70 quốc gia khác nhau trên khắp thế giới đổ về mảnh đất Israel, họ đã sát cánh cùng nhau bắt tay xây dựng và bảo vệ đất nước. Tiếp đó, sau các biến động ở Liên Xô và châu Âu trong những năm 1989-1990, 1,5 triệu người Do Thái (tức trên 1/4 dân số) trở về “cố quốc”. Mỹ, Australia, Canada cũng là quốc gia của những người nhập cư, nhưng chưa từng chứng kiến lượng lớn người nhập cư đổ về (tính theo tỷ lệ dân số) trong một thời gian ngắn đến vậy. Tuy đến từ nhiều xứ sở khác nhau, nhưng hầu hết những người Do Thái không bị gặp các rào cản ngôn ngữ và nhanh chóng hội nhập vào xã hội mới. Chuyện này thực hư thế nào và được thực hiện ra sao?

    Còn rất nhiều các câu hỏi khác nữa. Vấn đề đặt ra là mô hình Israel và bài học thành công của người Do Thái (tạm bỏ qua một bên các khiếm khuyết và một số “thói hư, tật xấu” của người Do Thái) có thể học được không và áp dụng ở quy mô nào (gia đình, dòng họ, công ty, thiết chế, đất nước…)?

    Israel: Cường quốc nông nghiệp giữa sa mạc

    Do điều kiện tự nhiên, sa mạc chiếm đến 60% tổng số 20.000 km2 diện tích, nên đất đai canh tác còn lại của Israel rất ít và chủ yếu nằm ở khu vực đồng bằng ven biển. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản Israel trở thành nước có nền nông nghiệp phát triển nhất thế giới, chủ yếu nhờ đi tiên phong trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.

    Đi thăm các cơ sở nông nghiệp Israel mới thấy trình độ công nghiệp hóa nông nghiệp và khả năng lập kế hoạch sản xuất, dự báo thị trường của Israel đạt đến trình độ rất cao. Có lẽ dùng từ “nông dân” đối với họ là không chính xác, mà là công nhân nông nghiệp. Ngoài ra, đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa 4 “Nhà”, gồm: (i) Nhà nước; (ii) Nhà khoa học; (iii) Nhà buôn; và (iv) Nhà nông. “Nhà nông” ở đây cần được hiểu là người bỏ vốn đầu tư, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất nông nghiệp.

    Đất đai ở Israel được nhà nước quản lý rất chặt chẽ. Nhà ở của dân thì xây trên các triền núi đá, khó cải tạo thành đất nông nghiệp, còn đất đồng bằng tuyệt đối sử dụng cho trồng trọt và canh tác. Thậm chí đất hoang mạc, nhưng tương đối bằng phẳng có thể cải tạo thành đất nông nghiệp thì cũng không được làm nhà ở trên đó.

    Israel đi tiên phong trên thế giới trong lĩnh vực cải tạo đất hoang mạc, sa mạc thành đất nông nghiệp trù phú. Quy trình như sau (để đơn giản hóa): (i) San bằng đất hoang mạc, sỏi đá; (ii) Phủ lên đó 1 lớp đất dày, ít nhất là 1/2 m; (iii) Trồng các loại cỏ hoặc cây dại không cần tưới nước khoảng từ 3-5 năm, để biến đất chết thành đất màu; (iv) Sau quá trình cải tạo này, đất hoang mạc biến thành đất nông nghiệp và được giao cho các chủ đất (nhà đầu tư) để tiến hành sản xuất.

    Về mặt sinh thái, bước vào thế kỷ 21, Israel là nước duy nhất trên thế giới đã mở rộng được diện tích rừng và quỹ đất nông nghiệp.

    Tuy là nước nhỏ, có 8 triệu dân, nhưng Israel lại có hệ thống đường dẫn nước tái sử dụng dài nhất thế giới. Toàn bộ lượng nước thải được dẫn trở lại các trung tâm xử lý, lọc lại, sau đó được dẫn ngược trở lại theo các đường ống để sử dụng tưới tiêu cho nông nghiệp.

    Hệ thống ống dẫn nước tưới được dẫn đến từng khoảnh vườn, tới từng cây và việc tưới được vi tính hóa qua hệ thống điều khiển ở trung tâm về thời gian tưới, lượng nước tưới sao cho phù hợp nhất với thời tiết, độ sinh trưởng của từng loại cây. Cũng từ trung tâm, các kỹ sư nông nghiệp sử dụng luôn đường ống dẫn nước để dẫn phân bón hoặc chất dinh dưỡng cần cho cây theo định kỳ.

    Tại đầu từng khoảnh vườn, có bảng ghi chi tiết vườn trồng cây gì, giống nào, từ khi nào… Nhìn chung các cây trồng (cam, bưỏi, cà chua, ớt.. ) là những loại cây trồng có năng suất cao, đã được lai ghép cho phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng Israel là chịu nắng, chịu khô, chịu sâu bệnh nhưng lại cho năng suất cao và chất lượng quả, trái cây tốt.

    Mỗi cây cam hoặc bưởi trông thấp như vậy nhưng lại rất sai quả và có thể cho đến vài tạ quả/cây khi đến mùa thu hoạch. Với lợi thế là trồng cây quả nhiệt đới có chất lượng cao, ổn định, hệ thống kiểm định chất lượng chặt chẽ, ở ngay sát châu Âu và cung cấp những hoa quả nhiệt đới “trái vụ” khi châu Âu bước vào mùa đông nên hoa quả Israel có rất nhiều lợi thế về giá và thị trường.

    Đây có lẽ chính là mô hình đầu tư, sản xuất, phát triển và kinh doanh nông nghiệp mà một nước nông nghiệp như chúng ta cần học hỏi và để làm giàu tại ngay chính mảnh đất quê hương mình. Nếu so với Israel, có lẽ đất đai miền Trung Việt Nam còn màu mỡ và có các điều kiện tự nhiên để sản xuất tốt hơn nhiều. Ngay một nước có nền nông nghiệp phát triển nhất ở khu vực như Thái Lan cũng có hàng ngàn thực tập sinh lao động trong các trang trại, mà thực chất là lao động xuất khẩu.

    Có điều ít người để ý là trong khi thực tập sinh Việt Nam chăm chỉ làm lụng, tiết kiệm từng đồng gửi về cho gia đình, vợ con, thì khá nhiều “lao động” Thái là các “tình báo” nông nghiệp. Họ là các kỹ sư, con cái các chủ nông trại Thái, những người nuôi chí làm giàu bằng nghề nông và sử dụng thời gian lao động tại Israel như một hình thức “khổ nhục kế”, âm thầm tìm hiểu quy trình sản xuất, kinh doanh, quản lý… để tìm đường khởi nghiệp làm giàu cho mình và cho nước Thái sau này.

    Vậy ta nên và sẽ làm gì? Xin nhường câu trả lời cho các bạn trẻ.

    Kinh Do Thái, lối sống, bản sắc, và tiếng Hebrew

    Có ba câu chuyện ngồi ngẫm lại thấy khá hay và cũng phần nào liên quan đến chủ đề sắp bàn dưới đây.

    CÂU CHUYỆN 1: Công việc đã xong, nhưng rủi một cái là không thể bay về được vì là ngày Thứ 7 nên hãng hàng không Israel El Al không làm việc. Nhưng lại có cái may là nhờ đó hiểu được thêm về kỳ nghỉ cuối tuần Thứ 6 và Thứ 7 (lễ Sabbath, người Do Thái đi làm từ Chủ nhật đến hết Thứ 5) của người Do Thái. Khi đi trên đường, đặc biệt ngày Thứ 7, thấy đường phố vắng ngắt và gặp không ít đàn ông Do Thái chính thống (Jewish Orthodox) mặc bộ đồ đen, đầu cũng đội mũ đen rộng vành, đứng trên vỉa hè, hai tay cầm quyển Kinh thánh Do Thái đọc lẩm nhẩm hàng tiếng đồng hồ với động tác hết sức thành kính và giữa trời nắng chang chang, trong khi đầu gật tới gật lui. Điều này không chỉ gây cho tôi sự ngạc nhiên thích thú, mà còn gợi ra rất nhiều điều.

    CÂU CHUYỆN 2: Trước đó, khi chia tay Đại sứ Dan Stav, người tháp tùng trong suốt chuyến đi, tôi có nói rằng “Khi tôi mới đến nơi, ông Đại sứ có nói Bộ Ngoại giao Israel có khoảng 1000 nhà ngoại giao. Giờ đây khi đã xong các cuộc tiếp xúc tôi chỉ đồng ý một nửa. Các ông không chỉ có 1000 nhà ngoại giao, mà đó còn là 1000 Giáo sư nữa”. Dan ngửa mặt cười ha hả. Quả thực, hiếm có nước nào, kể cả các cường quốc, lại có nhiều nhà ngoại giao nắm giữ các vị trí chủ chốt nhưng lại có trình độ khá đều tay, am hiểu sâu chuyên môn và có thể trình bày vấn đề mạch lạc như một giáo sư đại học. Không chỉ rành chuyên môn, họ còn thể hiện tác phong hết sức chuyên nghiệp, động tác mạnh mẽ, dứt khoát.

    CÂU CHUYỆN 3: Khi vào phòng làm việc với Lãnh đạo Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc Phòng của họ, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy phòng khách bày biện khá đơn giản, không rõ chỗ ngồi của chủ và khách. Bèn hỏi cô lễ tân là ngồi thế nào, cô để “Sếp” cô ngồi đâu. Câu trả lời là: Các ông ngồi thế nào thì tùy và chỉ cần để một chỗ cho ông ấy ngồi là OK. Sau này mới thấy rõ hơn, trừ một số cuộc gặp phải tuân thủ một số nghi lễ ngoại giao bắt buộc, việc ngồi tự do (free sitting) tạo không khí thảo luận thoải mái và bình đẳng giữa chủ và khách, càng ngạc nhiên hơn khi đây cũng chính là cách người Israel ngồi khi thảo luận nội bộ!

    Quay trở lại Phần 1, tôi thấy rằng các câu trả lời về nguyên nhân thành công của người Do Thái, sự cố kết của dân tộc này đều khởi nguồn từ 3 yếu tố chính (i) cuốn Kinh Do Thái (Jewish Bible), (ii) cách thức duy trì Đạo, bản sắc và lối sống Do Thái; và (iii) tiếng Hebrew. Các vấn đề khác như “gien” và tố chất thông minh của người Do Thái; tính hiếu học, ham hiểu biết và sáng tạo; cách duy trì và tổ chức cuộc sống, đời sống xã hội một cách văn minh, lành mạnh của họ đều bắt nguồn từ 3 yếu tố trên. Và cũng thật trớ trêu, đây lại là nguyên nhân chính khiến họ bị xua đuổi, miệt thị, truy sát trong hơn 20 thế kỷ qua. Tôi cũng nghiệm thấy rất ít dân tộc, quốc gia có thể học được theo họ, trừ phi anh cũng trở thành… người Do thái như họ!

    Ta hãy đi từng vấn đề một:

    Thứ nhất, Israel là đất nước duy nhất trên thế giới được định hình bởi 4 yếu tố mang đậm chất Do Thái là: (i) Dân tộc Do Thái, (ii) Đạo Do Thái, (iii) văn hóa Do Thái, và (iv) Đất nước Do Thái.

    Trong các tôn giáo trên thế giới, Đạo Do Thái được ghi nhận là đạo có tuổi đời lâu thứ hai trên thế giới (ra đời cách đây khoảng 3000 năm), sau Đạo Hindu (ra đời cách đây khoảng 4000 năm). Tuy nhiên, do Hindu là đạo đa thần, nên Do Thái giáo có thể xem là đạo độc thần (Monotheistic) ra đời sớm nhất thế giới. Đạo Độc thần là đạo chỉ thờ 1 vị chúa/thần/hoặc thánh duy nhất. Đạo Do Thái chỉ thờ duy nhất Chúa trời, nên trên bàn thờ trong nhà thờ Do Thái họ trang trí đơn giản, không thờ người hoặc động vật. Họ cho rằng, người là người, dứt khoát không thể là chúa hay thánh được và chỉ có một Đức Chúa trời duy nhất. Phải chăng điều này làm cho người Do Thái cũng như sinh hoạt tôn giáo của họ “dân chủ” hơn do không bị phân tán, mất bớt quyền lực qua các nhân vật trung gian?

    Một điều rất đặc biệt là trong cuốn Kinh Torah (gồm 5 tập, ghi lại các lời của Nhà tiên tri Moses) có ghi người Do Thái được Đức chúa trời chọn (the Chosen People) để truyền đạt thông điệp của Chúa cho các dân tộc khác, dẫn dắt và khai sáng các dân tộc khác. Người Do Thái rất tin vào điều này, tin vào “sứ mạng” được Chúa giao phó. Đây có lẽ là động lực lớn nhất khiến người Do Thái luôn tìm cách đạt đến đỉnh cao của khoa học, phấn đấu đủ tầm trí tuệ “dẫn dắt” nhân loại như họ nghĩ đã được “Chúa lựa chọn”. Do đó, điểm nổi bật nhất ở người Do Thái là họ thấy mục đích cao nhất của cuộc sống là sáng tạo, chứ không chỉ là kiếm tiền, và kiếm tiền cũng như sự giàu có của họ thực ra là hệ quả của các lao động sáng tạo chứ không phải mục đích mà họ theo đuổi.

    Thứ hai, trong bất kỳ tôn giáo nào, tính “Giáo điều” đều tồn tại, duy chỉ khác nhau về mức độ. “Giáo điều” là những điều được ghi trong kinh/kinh thánh hoặc được các Bề trên giảng và được coi mặc nhiên đúng, không bàn cãi. Tuy nhiên, bản kinh Torah của người Do Thái lại rất gợi mở để mọi người suy nghĩ, khám phá. Trong 5 cuốn Kinh Torah thì có đến 4 cuốn nói về luật và 1 cuốn về các vấn đề trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày. Torah ghi các vấn đề trong cuộc sống, đặt ra các câu hỏi, gợi mở để suy nghĩ, nhưng lại không chỉ có một câu trả lời, mà có nhiều câu trả lời tùy thuộc bối cảnh khác nhau, và thậm chí còn để khoảng trống để mọi người cho trí tưởng tượng bay bổng với các hỏi và câu trả lời. Trong bữa cơm gia đình cuối ngày, hoặc trong ngày Sabbath, các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng đọc và tranh luận các điều ghi trong kinh thánh, và có thể chính điều này làm tăng thêm năng lực trí tuệ, làm cho họ rất giỏi về luật.

    Thứ ba, các bạn Israel cho biết, cuốn Kinh Torah giống như một cuốn sách khoa học hơn là một cuốn kinh với các “Giáo điều”. Chẳng hạn, trong Kinh Torah ghi rõ ngày Thứ 7 là ngày Chúa nghỉ ngơi, nên tất cả mọi người Israel, kể cả các nô lệ và súc vật không được làm việc trong những ngày này. Ngày lễ Thứ 7 của họ gọi là ngày lễ Do Thái (Sabbath) được xem là ngày “nghỉ tuyệt đối”, theo đó Chúa khuyên các thành viên trong gia đình dành thời gian này bên nhau, cùng trò chuyện, đi chơi, vợ chồng “yêu” nhau, gia đình cùng nhau đi đến nhà thờ (Synagogue). Trong ngày này, mọi người không được bật lửa (vì thời xa xưa, bật lửa có nghĩa là phải vào bếp nấu nướng, tức vẫn “đi làm”) và ăn đồ ăn được chuẩn bị từ hôm trước. Thậm chí thang máy trong các cao ốc cũng để “chế độ Sabath”, tức người Do Thái không dùng tay bấm nút (biểu hiện của “làm việc”), mà để thang tự chạy automatic và mở cửa trước từng tầng một từ tầng thấp nhất đến tầng cao nhất của tòa nhà. Ngày Chủ nhật là ngày làm việc đầu tiên của họ, và điều ngạc nhiên là theo cách gọi trong Kinh thánh Do Thái các ngày làm việc trong tuần theo tuần tự là các ngày “sáng tạo”, chứ không phải ngày “đi làm”.

    Chỉ bấy nhiêu thôi cũng gợi ra một số điều thú vị:

    • Ngày thứ 7 nghỉ tuyệt đối để lấy sức lao động cho các ngày khác trong tuần và đây có thể là nguồn cảm hứng cho việc đấu tranh đòi quyền của người lao động sau này;
    • Lễ Sabbath tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình (khi cả nhà cùng ngồi ăn quay quần bên nhau), và giữa các thành viên trong cộng đồng (khi hàng xóm cùng kéo nhau đến nhà thờ);
    • Là cơ sở của việc đấu tranh giành quyền bình đẳng phụ nữ (không lao động trong ngày Sabbath) sau này, cũng như quyền của động vật;
    • Vợ chồng “sản xuất” em bé trong ngày nghỉ khi tinh thần thoải mái thì đứa trẻ sau này cũng sẽ thông tuệ hơn.

    Người Do Thái coi trọng chuyện học hành

    Người Do Thái rất chú trọng đến chuyện học hành và chữ nghĩa của con cái. Cuốn Kinh Talmud từ cách đây trên 2000 năm đã yêu cầu các ông bố, bà mẹ phải dạy cho con cái biết đọc, biết viết từ năm lên 6 tuổi. Điều này, cũng như một số giáo lý khác trong kinh Talmud, được người Do Thái thực hiện hết sức nghiêm túc (sẽ nói kỹ sau), một phần vì thấy đúng, một phần vì sợ bị cộng đồng xa lánh. Do đó, từ cách đây trên 2000 năm người Do Thái cơ bản xóa được nạn mù chữ, với trên 90% người dân biết đọc, biết viết.

    Đối với cuộc sống của con người hiện đại thời nay, điều này là quá sức bình thường. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh người Do Thái là những người du mục, nông dân, thậm chí tha phương cầu thực mà vẫn giữ được truyền thống này, trong bối cảnh tới trên 90% dân châu Âu và các sắc dân khác ở Bắc Phi, Trung Đông ở xung quanh thời đó mù chữ thì đây quả là điều phi thường. Không chỉ thời nay người Do Thái mới được trọng dụng và phát huy vai trò, mà vào thời cực thịnh của Đạo Hồi (thế kỷ IX-XIII) sau Công nguyên, người Do Thái được người Hồi giáo tin dùng và đóng vai trò nổi trội là các thương gia biết tính toán, “ăn nên, làm ra” với hệ thống buôn bán kéo dài từ Trung Đông, qua Nam Á và Đông Nam Á, thậm chí tới Thượng Hải.

    Vậy trong điều kiện bị chiếm đóng và lưu lạc, họ duy trì được chữ viết và tiếng nói của mình ra sao trong hàng ngàn năm mà không bị mai một? Câu trả lời chính là sự sùng đạo và cuốn kinh Do Thái viết bằng tiếng Hebrew.

    Hầu hết những người Do Thái mà tôi gặp, dù là người Chính thống hay người Do Thái bình thường, đều nói rằng khi gặp nạn, vật đầu tiên và cũng là vật quý giá nhất mà người Do Thái đem theo đầu tiên đó chính là CUỐN KINH THÁNH, chứ không phải bất cứ vật dụng nào khác. Cuốn Kinh thánh Do Thái (Hebrew Bible) đối với họ vừa là đức tin, vừa là lịch sử, vừa là nguồn tri thức, vừa giúp họ giữ được bản sắc, vừa giúp họ có tương lai:

    Một là, sự sùng đạo, khiến người Do Thái phải đọc kinh liên tục, đọc thuộc làu, đọc ở trong nhà, đọc ngoài đường, đọc ở nhà thờ… giúp người Do Thái giữ được tiếng nói, nhận diện được ngôn ngữ đặc trưng của mình và được truyền từ đời này qua đời khác.

    Hai là, khi lưu lạc sang các xứ khác nhau, ngữ âm của họ có bị thay đổi do phát âm theo thổ ngữ địa phương, nhưng cơ bản họ vẫn hiểu được nhau dù lang bạt hàng ngàn năm, và tới tận 73 quốc gia và lãnh thổ khác nhau. Điều đó giải thích tại sao người Do Thái từ “tứ xứ” đổ về, nhưng đã nhanh chóng gắn kết với nhau ngay sau khi Israel được tái lập năm 1948.

    Ba là, không chỉ thạo tiếng Hebrew, mà người Do Thái còn thạo tiếng bản địa nơi họ sinh sống. Như vậy trên thực tế, người Do Thái sử dụng thông thạo hai ngoại ngữ từ rất sớm. Khoa học đã chứng minh, những người hoặc nhóm cộng đồng sử dụng được trên 1 ngoại ngữ thường có chỉ số IQ lớn hơn nhóm, hoặc người sử dụng ít ngôn ngữ hơn. Không chỉ vậy, kinh thánh không chỉ là phương tiện duy trì ngôn ngữ, mà còn giúp họ mở mang các kiến thức luật, kinh tế và khoa học thông thường ở trong đó.

    Bốn là, niềm ao ước tột cùng trở về Jerusalem cũng được ghi trong Kinh thánh. Thời cổ đại, dù muốn đi đâu, làm ăn gì, thì người Do Thái cũng quy ước về quần tụ tại Jerusalem để hành lễ ít nhất là 4 lần 1 năm. Đến nay, truyền thống đó vẫn được duy trì và người Do Thái ở Israel thường về Jerusalem mỗi năm một lần, còn người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới thì về ít nhất 1 lần trong đời. Kinh Thánh Do Thái ra đời trong bối cảnh người dân Do Thái đã từng mất tổ quốc, mất Jerusalem trong một thời kỳ dài từ hàng trăm năm trước đó. Do đó, Kinh Thánh nhắc nhở người Do Thái rất kỹ về điều này. Truyền thống có từ cả ngàn năm nay và đến nay vẫn được duy trì trong cộng đồng Do Thái, là khi gặp nhau, hoặc khi viết thư, họ thường nói đến việc “sớm hẹn gặp nhau tại Jerusalem”, “hẹn gặp tại Jerusalem vào năm tới”. Do đó, ước nguyện trở về Jerusalem, lấy lại Jerusalem luôn cháy bóng trong mỗi người Do Thái và họ không bao giờ quên điều này khi tha hương.

    Đạo Do Thái và việc duy trì nòi giống

    Việc thực hiện nghiêm ngặt các phong tục tập quán của Do Thái giáo giúp người Do Thái sàng lọc gien “xấu”, lấy và nhân giống gien “tốt”. Thực ra, không chỉ người Do Thái làm vậy, mà các dân tộc khác như ngoài Hoa và Việt Nam cũng có những vần thơ để chọn người xứng đôi, vừa lứa như “Trai anh hùng, gái thuyền quyên”, “Nữ tuệ tam tài nguyên thị đối” (Gái giỏi trai tài nom thật đối), v.v…. Chắc chắn đây không chỉ là chuyện “tâm đầu, ý hợp” của trai gái, mà còn liên quan đến việc duy trì nòi giống sau này.

    Nếu như người Đông Á chỉ dừng lại ở mức “khuyên răn” thì người Do Thái đã “luật hóa” và “hệ thống hóa” được việc chọn lọc có chủ đích thay cho việc chọn lọc tự nhiên, vô thức để “hoàn thiện” và “phát triển” gien của mình:

    Một là, trong Đạo Do thái, Giáo sĩ (các Rabbis) là những người được chọn từ những người thông minh nhất. Các Rabbis là người diễn giải Kinh thánh có uy tín và trọng lượng nhất, duy trì các giá trị “chính thống” và được xã hội hết sức trọng vọng. Tuy là thầy tu, nhưng các Rabbis vẫn có con như những người bình thường, và thậm chí có rất nhiều con. Do có uy tín cao trong xã hội, nên họ dễ dàng chọn hôn thê và hôn thê được họ ưu tiên chọn thường là con cái của các học giả (scholars), rồi sau đó mới đến con các nhà buôn.

    Hai là, không chỉ các Rabbis chọn như vậy, kinh thánh Do Thái thậm chí còn khuyên mọi người là nếu có tiền của thì hãy tìm cách cho con cái của mình lấy con gái của các học giả. Kinh thánh khuyến khích người Do Thái sinh nhiều con, cho rằng sinh 13 con thì sẽ có nhiều may mắn. Nhưng trên thực tế lại có các “phanh hãm” đối với người nghèo, người ít học là sinh ra con cái nhưng phải đảm bảo các điều kiện kinh tế và tài chính. Chính điều này làm cho người nghèo, người ở tầng lớp thấp không “sinh tràn lan”, mà sinh có trách nhiệm và số người này chiếm tỷ lệ ngày một ít đi trong so sánh tương đối với những người có “gien” tốt, hoặc có điều kiện vật chất tốt hơn. Trải qua hàng ngàn năm chọn lọc có điều kiện như vậy nên việc có được nhiều gien tốt trong người Do Thái là điều dễ hiểu.

    Ba là, trong quan niệm Do Thái chính thống, và ngay tại các khu vực người Do thái chính thống sinh sống hiện nay tại Israel, phụ nữ, con gái không bao giờ được “bén mảng” đến Nhà thờ. Trái lại, đàn ông dù bận công việc đến mấy cũng tìm cách đến nhà thờ vào lúc 6h chiều hàng ngày để làm lễ trước khi về nhà. Tuy nhiên, phụ nữ Do Thái lại được xem là có “quyền năng” tuyệt đối trong việc duy trì nòi giống. Con của một phụ nữ Do Thái đương nhiên được coi là người Do Thái, còn con của người đàn ông Do Thái với một phụ nữ không phải Do Thái thì chỉ được coi là người Israel (nếu như sống ở Isael), chứ không được coi là người Do Thái. Thời xa xưa, việc gia đình người Do Thái có một cô con gái lấy chồng không phải người Do Thái bị coi là “nỗi nhục” của cả gia đình và dòng họ, và người bố “từ con” bằng cách đào một nấm mộ giả coi như đứa con mình dứt ruột đẻ ra đã chết.

    Nhiều nhà thần học mà tôi có điều kiện tiếp xúc cho rằng Đạo Do Thái hiện là một trong số ít tôn giáo “giữ” được “kỷ cương” khá tốt. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh câu chuyện này và cần nghiên cứu sâu hơn mới có câu trả lời thỏa đáng. Quả thực, bất kỳ tôn giáo lớn hoặc quan trọng nào đều đứng trước 3 thách thức lớn trong quá trình phát triển, đó là:

    • Duy trì được sự thống nhất, giữa các dòng, nhánh, xu hướng khác nhau trong cùng một tôn giáo, duy trì một đức tin chung trong thể thống nhất. Ví dụ, sự phân liệt rõ nhất thể hiện ở Đạo Hồi hiện nay với các dòng Shia, Suni, rồi nhánh Wahabis thuộc Suni, nhánh Alewite, Druze thuộc dòng Shia…, mà dòng, nhánh nào cũng cho mình mới là “chính thống”, còn những dòng, nhánh khác là “ngoại đạo”, cần bị loại bỏ để làm “trong sạch” Đạo Hồi;
    • “Đồng hành” cùng xã hội hiện đại, nhưng vẫn duy trì các giá trị, các nguyên tắc “cốt lõi” (tức tính chất “chính thống”, mặc dù việc diễn giải và tự nhận các tính chất này còn nhiều điều phải bàn);
    • Tránh việc tạo ra một tầng lớp “tăng lữ” mới, với các đặc quyền, đặc lợi, hủy hoại chính tôn giáo của mình.

    Do Thái giáo cũng không phải là ngoại lệ, nhưng ít gặp các “vấn nạn” ở trên hơn, do:

    • Ngay khi ra đời, Do Thái giáo đã không có “vấn nạn”, đưa đến sự kình chống nhau sâu sắc giữa các dòng tu. Đạo Hồi chẳng hạn, ngay sau khi Nhà tiên tri Mohamed qua đời, sự giằng xé giữa những người cho rằng cần phải chọn người thừa kế hoặc có dòng màu trực hệ để “hướng đạo” hạy chọn những người có khả năng nhất trong việc kế thừa và phát triển di sản của Mohamed đã đưa đến việc phân chia Hồi giáo thành 2 nhánh lớn là Shia và Suni. Do Thái giáo cũng có những dòng hết sức cực đoan, thậm chí không công nhận Nhà nước Israel, nhưng họ vẫn hợp tác, và không đi đến chỗ đối đầu nhau bằng bạo lực. Những người có tác dụng giữ sự hòa hợp và thống nhất Đạo Do Thái là các giáo sĩ và Hội đồng giáo sĩ.
    • Trong hệ thống luật dân sự của Israel, còn có luật Do Thái Halakha tương tự như luật Sharia của Hồi giáo mà một số nước như Arab Saudi, Brunei… áp dụng. Halakha bao gồm 613 điều răn (commandments) với hệ thống tòa án riêng, và các “bản án” tôn giáo đối với người có đạo thậm chí còn đáng sợ và nghiêm khắc hơn các bản án dân sự. Luật Halakha tồn tại trong mọi ngóc ngách của đời sống xã hội, can thiệp sâu và điều chỉnh rất nhiều quy tắc, tập tục của đời sống xã hội. Nếu không tuân theo Halakha, các Rabbis có quyền rút “Phép thông công” (excommunicate) – tương đương với một bản án tử hình – và điều này cũng đồng nghĩa với việc khi qua đời, linh hồn người chịu hình phạt đó không được bay lên Thiên đàng.
    • Người theo Đạo chính thống Orthodox tin và tự chọn cho mình lối sống theo các giá trị truyền thống và nguyên tắc nguyên thủy. Tuy nhiên, họ không tìm cách áp đặt lối sống của mình hay kỳ thị những người thế tục. Bản thân các Giáo sĩ (Rabbis) và những người Orthodox không được hưởng đặc quyền, đặc lợi, họ thỏa mãn với cuộc sống thanh bạch của mình. Trong đạo Hồi chẳng hạn, những người Wahabbis cũng có cuộc sống thanh bạch, khắc khổ, nhưng điều nguy hại là họ lại tìm cách áp đặt lối sống của mình lên những dòng, nhánh khác.
    • Khác với các Đạo giáo khác là tìm mọi cách truyền đạo để mở rộng thành viên, càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, để trở thành một người Do Thái rất khó, phải có căn cứ, bằng chứng xác nhận tới ít nhất 4 đời trước đó và quy theo mẫu hệ. Họ cho rằng, đã là “thiên sứ nhà trời”, “được chúa chọn” thì chỉ có ít người được hưởng vinh dự, chứ đâu có thể kết nạp tràn lan, cứ vào đến synagogue (nhà thờ Do Thái) là trở thành Do Thái ngay được.

    Trong những điều kiện khắc nghiệt thời kỳ Đế quốc La mã là bá chủ khu vực Trung Đông, để tránh bị truy đuổi và tận diệt, người Do Thái buộc phải cải đạo sang đạo Thiên chúa. Tuy nhiên họ lại cải đạo trở lại thành người Do Thái khi điều kiện cho phép. Bản thân Hitler là người rất căm thù dân Do Thái, một cộng đồng đoàn kết nhưng sống tách biệt với người bản xứ. Trong con mắt Hitler, đã sinh ra là một người Do Thái thì sẽ luôn luôn là một người Do Thái, cải đạo chẳng giúp ích gì, và quyết truy sát 1 người nếu tìm được bằng chứng trước đó 4 đời họ là người Do Thái.

    Tản mạn thay lời kết: Chuyện ăn uống và tố chất của người Do Thái

    Đồ ăn Kosher (Kosher food) là đồ ăn được chế biến và ăn theo kiểu Do Thái. Đối với người Do Thái Chính thống, việc sử dụng Kosher là điều gần như bắt buộc, còn đối với người thế tục thì tùy lựa chọn. Các canteen phục vụ tai các cơ quan chính phủ Israel như Bộ Ngoại giao hay Bộ Quốc phòng nghiễm nhiên là các nhà hàng phục đồ ăn Kosher. Đồ ăn Kosher hiện ngày càng trở nên phổ biến tại Israel và trên khắp thế giới và không chỉ người Do thái chính thống mới dùng. Hiện nay, có 100.000 loại thực phẩm Kosher khác nhau được bán trên phạm vi toàn thế giới.

    Vậy Kosher là gì và ăn như thế nào? Trong Halakha quy định rất rõ, chi tiết và khá phức tạp, nhưng chung quy lại có một số điểm chính:

    Về các thức ăn Kosher:

    • Một số con vật ăn được: chỉ ăn những con vật có móng chẻ, ăn cỏ và nhai thức ăn lại như bò, dê, cừu. Các con vật không ăn được là lợn, ngựa, và lạc đà.  Lợn tuy có móng chẻ nhưng không nhai lại, còn ngựa, lạc đà tuy ăn cỏ nhưng không có móng chẻ.
    • Ăn các loài có cánh như gà, vịt, ngỗng, bồ câu… Không ăn các loài chim ăn thịt như diều hâu, chim ưng, đại bàng.
    • Ăn các loài cá có vây và vẩy như các hồi, cá ngừ, cá trích… Không ăn các con cá không vảy như lươn, các trê, cá tầm, tôm, tép, nghêu sò, ốc hến, các loài bò sát, côn trùng.
    • Các thức ăn trung tính như trái cây, nước trái cây, ngũ cốc, trứng gà vịt, mật ong, rượu vang, chè, café.

    Về cách ăn đồ Kosher:

    • Chỉ uống sữa và các vật phẩm chế biến từ sữa của các con vật Kosher như bò, dê, cừu. Chỉ được dùng sữa và các vật phẩm chế từ sữa 6 tiếng sau khi dùng thịt, hoặc 30 phút trước khi ăn thịt chứ không được ăn, uống đồng thời. Đồ chế biến sữa và thịt, kể cả chậu rửa bát nhất thiết phải dùng riêng.
    • Lúa mì, gạo, và một số loại rau, củ nhất định thì ăn được. Không ăn, uống nước trái cây hoặc đồ chế biến từ các loại loại quả như cam, quýt, bưởi… dưới 3 tuổi.
    • Không ăn nội tạng động vật hay gia cầm; không ăn phần phía sau của con thú và không ăn thịt, cá đồng thời.
    • Khi ăn thịt phải lấy hết sạch máu và người chế biến phải học cách giết con vật sao cho con vật chết nhanh nhất, không đau đớn, nhưng lại ra được hết tiết. Thậm chỉ còn phải rửa sạch và ngâm miếng thịt trong nước 30 phút trước khi chế biến để ra hết máu,
    • Các nhà hàng Kosher nhất thiết phải do đầu bếp Do thái chính thống trực tiếp nấu nướng và bị phạt rất nặng, kể cả tước giấy phép kinh doanh, hành nghề nếu vi phạm.

    Có lẽ trên thế giới không có dân tộc nào có kiểu ăn “kiêng, khem” phức tạp và rườm rà như người Do Thái chính thống. Các nhà hàng phục vụ đồ ăn Kosher thường đắt hơn từ 20-30% so với nhà hàng thông thường, vậy mà lúc nào cũng đông khách ăn.

    Theo tôi, đây không chỉ là đồ ăn kiêng của người Do Thái, mà THỰC CHẤT KOSHER LÀ ĐỒ ĂN, CÁCH ĂN

    Người Do Thái – Wikipedia tiếng Việt

    Bài này viết về người Do Thái. Đối với bài về tôn giáo của người Do Thái, xem Do Thái giáo.
     src=

    Một tín đồ của người Do Thái Giáo đang cầm trên tay một quyển sách nhỏ màu đỏ

    Người Do Thái (tiếng Hebrew: יְהוּדִים ISO 259-3 Yehudim, phát âm [jehuˈdim]) là một sắc tộc tôn giáo[11] là một dân tộc[12][13][14] có nguồn gốc từ người Israel,[15][16][17] còn gọi là người Hebrew,[18][19] trong lịch sử vùng Cận Đông cổ đại. Các đặc tính sắc tộc, dân tộc và tôn giáo của người Do Thái có liên quan chặt chẽ với nhau, khi mà Do Thái giáo là tín ngưỡng truyền thống của dân Do Thái, cho dù mức độ hành đạo của họ rất đa dạng, từ tuân thủ nghiêm ngặt cho tới hoàn toàn không thực hành.

    Người Do Thái bắt nguồn từ một nhóm dân tộc và cũng là một nhóm tôn giáo ở Trung Đông trong thiên niên kỷ thứ hai trước công nguyên,[7] ở một phần của vùng Levant được gọi là mảnh đất của Israel.[20] Merneptah Stele khẳng định sự tồn tại của một dân tộc được gọi là Israel nằm ở đâu đó trong vùng Canaan từ khoảng thế kỷ thứ XIII trước công nguyên (cuối thời đại đồ đồng).[21][22] Người Israel phát triển từ dân số Canaanite,[23] củng cố các tổ chức của họ với sự xuất hiện của Vương quốc Israel và Vương triều Judah. Một số người cho rằng các dân tộc định cư ở vùng Canaan này kết hợp với các nhóm du mục di cư đến được gọi là người Hebrew.[24] Mặc dù một vài nguồn chi tiết đề cập đến các giai đoạn lưu vong,[25] kinh nghiệm cuộc sống vong quốc của người Do Thái, từ chế độ nô lệ Ai Cập cổ đại đối với người Levant, đến sự đóng chiếm của người Assyria và chế độ lưu đày, cho đến xự chiếm đóng của người Babylonian và sự trục xuất, cho đến sự cai trị của Vương quốc Seleukos, tiếp theo là sư độ hộ của đế quốc La Mã và sự tha hương viễn xứ, và các mối quan hệ lịch sử giữa người Do Thái với quê hương của họ sau đó, trở thành đặc điểm chính của lịch sử, bản sắc và ký ức của người Do Thái.[26]

    Người Do Thái đã trải qua một lịch sử lâu dài bị đàn áp và thảm sát trên nhiều vùng đất khác nhau; dân số và phân bố dân cư của họ thay đổi qua nhiều thế kỷ. Số lượng người Do Thái trên khắp thế giới đã đạt đỉnh là 16,7 triệu người trước Thế Chiến thứ Hai,[27] chiếm khoảng 0,7% tổng dân số thế giới vào thời điểm đó, nhưng khoảng 6 triệu người do thái đã bị tàn sát có hệ thống[28][29] trong suốt nạn diệt chủng Do Thái. Sau đó, dân số tăng chậm trở lại, và vào năm 2014, theo North American Jewish Data Bank, ước tính có khoảng 14,2 triệu người Do Thái,[30][31] chiếm gần 0,2% tổng dân số thế giới (khoảng một trong 514 người là người Do thái).[32] Dựa theo báo cáo, khoảng 44% trong số tất cả người Do Thái sống ở Israel (6,3 triệu), và 40% người Do Thái ở Hoa Kỳ (5,7 triệu), phần lớn số người Do Thái còn lại sống ở châu Âu (1,4 triệu) và Canada (0,4 triệu).[2] Những con số này bao gồm tất cả những người tự xác định là người Do Thái trong một nghiên cứu xã hội nhân khẩu học hoặc đã được xác định là như vậy bởi một người trả lời trong cùng một hộ gia đình.[33] Tuy nhiên, số liệu chính xác của người Do Thái trên toàn thế giới rất khó đo lường. Ngoài các vấn đề về phương pháp thống kê, các tranh chấp giữa các yếu tố nhân dạng theo luật Do Thái halakhic, thế tục, chính trị, và tổ tiên liên quan đến người Do Thái và ai là một người Do Thái cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến con số thống kê tùy thuộc vào nguồn gốc.[34] Israel là quốc gia duy nhất nơi mà người Do Thái chiếm đa số. Nhà nước Israel hiện đại được thành lập như một nhà nước Do thái và tự định nghĩa bản sắc của nó trong bảng Tuyên bố Độc lập và hiến pháp cơ bản. Luật về Sự trở lại của quốc gia Israel trao quyền công dân cho bất kỳ người Do Thái nào yêu cầu quốc tịch Israel.[35]

     src=

    Người Do Thái hiện đại đang sinh sống ở Israel

    Vào năm 2016, có khoảng 14,4 triệu người Do Thái trên toàn thế giới, người Do Thái đóng góp khoảng 0,2% tổng dân số thế giới, phần lớn là ở Israel và Hoa Kỳ. Các ước tính khác ước lượng khoảng 15 triệu người Do Thái trên toàn thế giới. Trong cộng đồng người Do Thái, người Do Thái ở Mỹ chiếm phần lớn nhất với 1,8%, tiếp theo là Canada 1,1% và Pháp là 0,7%. Ở Đức, tỷ lệ dân số người Do Thái là 0,1%.

    Qua nhiều đợt di cư và làn sóng nhập cư, sự phân bố của người Do Thái trên thế giới đã thay đổi kể từ khi bước sang thế kỷ XX. Vào đầu những năm 1990, phần lớn người Do Thái vẫn còn sống ở Liên bang Xô Viết. Sau khi Liên bang Xô viết tan rã, nhiều người Do Thái di cư đến Israel, Hoa Kỳ và Đức.

    Bảng dưới đây đề cập đến tình trạng dân khẩu người Do Thái từ ngày 1 tháng 1 năm 2016.[36]

    Quốc gia Dân số người Do Thái Số lượng
    người Do Thái
    Phần trăm
    dân số người Do Thái
    Các chú thích
     src= Israel 6.336.400[37] 44,0 50,0 bao gồm Đông Jerusalem, Bờ Tây và Đồi Golan
     src= Hoa Kỳ 5.700.000 39,5 1,8 Ước tính: 6,7-6,8 triệu người Do Thái[31][38]
     src= Pháp 460.000 3,2 0,7
     src= Canada 388.000 2,7 1,1
     src= Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 290.000 2,0 0,4
     src= Argentina 180.700 1,3 0,4
     src= Nga 179.500 1,2 0,1
     src= Đức 117.000 0,8 0,1 Ước tính: 200.000 người Do Thái[39]
     src= Úc 113.000 0,8 0,5
     src= Brasil 94.200 0,7 0,0
     src= Nam Phi 69.500 0,5 0,1
     src= Ukraina 56.000 0,4 0,2
     src= Hungary 47.600 0,3 0,5
    México México 40.000 0,3 0,0
     src= Hà Lan 29.900 0,2 0,2
     src= Bỉ 29.500 0,2 0,3
     src= Ý 27.400 0,2 0,0
     src= Thụy Sĩ 18.800 0,1 0,2 chính thức: 16.500 người Do Thái [40]
     src= Chile 18.300 0,1 0,1
     src= Uruguay 17.000 0,1 0,5
     src= Thổ Nhĩ Kỳ 15.500 0,1 0,0
    Thụy Điển Thụy Điển 15.000 0,1 0,2
     src= Belarus 10.400 0,1 0,1
     src= România 9.300 0,1 0,0
     src= Áo 9.000 0,1 0,1 Ước tính lên đến 15.000 người Do Thái[41]
     src= Iran 9.000 0,1 0,0
     src= Trung Quốc 2.600 0,0 0,0 bao gồm Hồng Kông và Ma Cao
    Maroc Maroc 2.300 0,0 0,0
     src= Bulgaria 2.000 0,0 0,0
    Cờ Nhật Bản Nhật Bản 1.000 0,0 0,0
     src= Singapore 900 0,0 0,0
     src= Ethiopia 100 0,0 0,0
    Tổng cộng 14.410.700 100,00 0,2

    Dân số Do Thái lan rộng khắp các châu lục như sau (theo năm 2016)[42]

    1. ^ a ă Cư dân ở các vùng của Nga và Thổ Nhĩ Kỳ, những người sống ở Châu Á, đã được đưa vào khu vực Châu Âu.
    2. ^ Bao gồm Úc và New Zealand.

    Tùy thuộc vào phương pháp đếm, có sai lệch nhỏ so với bảng trên.

    Israel[sửa | sửa mã nguồn]

     src=

    Thanh niên người Do Thái tân thời sống ở miền quê Israel với kiểu tóc truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc của người Do Thái

    Israel, quốc gia Do Thái, là quốc gia duy nhất mà công dân người Do Thái chiếm đa số.[43] Israel được thành lập như là một quốc gia dân chủ độc lập và là một nhà nước Do Thái vào ngày 14 tháng 5 năm 1948.[44] Trong số 120 thành viên trong Quốc hội, Knesset,[45] vào năm 2016, 14 thành viên của Knesset là công dân Ả rập của Israel (không bao gồm Druze), đại diện cho các đảng phải chính trị Ả Rập. Một trong những thẩm phán của Tòa án Tối cao Israel cũng là một công dân Ả rập Israel.[46]

    Giữa năm 1948 và năm 1958, dân số Do Thái tăng từ 800.000 người Do Thái lên đến hai triệu người Do Thái.[47] Hiện tại, người Do Thái chiếm 75,4% dân số của Israel, hay 6 triệu người.[48][49] Những năm đầu đời của Nhà nước Israel được đánh dấu bởi sự nhập cư hàng loạt của những người còn sống sót sau cuộc diệt chủng người Do Thái Holocaust và người Do Thái trốn khỏi các vùng đất của người Ả Rập.[50] Israel cũng có một số lượng lớn người Do Thái Ethiopia, nhiều người trong số đó được đưa đến Israel vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990.[51] Từ năm 1974 đến năm 1979 gần 227.258 người nhập cư Do thái đến Israel, khoảng một nửa là từ Liên Xô.[52] Giai đoạn này cũng cho thấy sự gia tăng số lượng dân nhập cư vào Israel từ Tây Âu, Châu Mỹ Latinh và Bắc Mỹ.Người Do Thái là ai? Tại sao họ thông minh nhất Thế giới?

    Người Do Thái (tiếng Hebrew: יְהוּדִים ISO 259-3 Yehudim, phát âm [jehuˈdim]) là một sắc tộc-tôn giáo có nguồn gốc từ người Israel trong lịch sử

    Trong lịch sử, người Do Thái được biết đến là một sắc tộc tôn giáo có nguồn gốc từ Israel. Dù hiện nay người Do Thái sống rải rác tại nhiều quốc gia khác nhau, nhưng chỉ có Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái.

    Dân số người gốc Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng gần 13,8 triệu người (khoảng hơn 0,19% dân số thế giới – số liệu năm 2013), tức là cứ khoảng 517 người thì có 1 người Do Thái. Thế nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy, có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0,19% dân số đảm nhiệm. Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch… đều là người Do Thái.

    Người Do Thái (tiếng Hebrew: יְהוּדִים ISO 259-3 Yehudim, phát âm [jehuˈdim]) là một sắc tộc-tôn giáo có nguồn gốc từ người Israel trong lịch sử vùng Cận Đông cổ đại.

     /></span> <span onclick=

    Người Do Thái

    Người Do Thái đã chịu một lịch sử lâu dài bị đàn áp và thảm sát trên nhiều vùng đất khác nhau, dân số và phân bố dân số của họ thay đổi qua nhiều thế kỉ. Ngày nay, đa số các nguồn tin cậy đều đặt dân số Do Thái trong khoảng từ 12 tới 14 triệu. Theo như báo Jewish Agency, trong năm 2007 có 13,2 triệu người Do Thái trên toàn thế giới; trong đó 5,4 triệu (40,9%) ở Israel; 5,3 triệu (40,2%) ở Hoa Kỳ và số còn lại rải rác khắp thế giới.

    Nguồn gốc của người Do Thái theo truyền thống là vào khoảng 1800 TCN với những câu chuyện ghi lại trong Kinh Thánh về sự ra đời của đạo Do Thái.

    Merneptah Stele, có niên đại vào khoảng 1200 TCN, là một trong những tài liệu khảo cổ xưa nhất của người Do Thái sinh sống trong vùng đất Israel, nơi Do Thái giáo, tôn giáo độc thần đầu tiên được phát triển. Theo những câu chuyện chép lại trong Kinh Thánh, người Do Thái hưởng thụ những giai đoạn tự chủ đầu tiên dưới những quan tòa từ Othniel cho tới Samson, sau đó vào khoảng năm 1000 TCN, vua David thiết lập Jerusalem như là kinh đô của Vương quốc Israel và Judah Thống nhất và từ đó cai quản Mười hai chi tộc Israel.

    Vào năm 970 TCN, con của vua David là vua Solomon trở thành vua của Israel. Trong vòng mười năm, Solomon bắt đầu xây dựng Đền thờ thiêng liêng được biết đến như là Đền thờ Đầu tiên. Khi Solomon chết (khoảng 930 TCN), mười chi tộc phía bắc tách ra để thành lập Vương quốc Israel. Vào năm 722 TCN người xứ Assyria chinh phục vương quốc Israel và làm người Israel phải sống lưu vong, bắt đầu một cộng đồng hải ngoại. Vào thời đại di chuyển và du hành khá hạn chế, người Do Thái trở thành những người dân tỵ nạn đầu tiên và dễ bị chú ý nhất. Ngày xưa cũng như bây giờ, dân di cư được đối xử với sự nghi ngờ.

    Cho đến cuối thế kỉ 18, từ Do Thái và theo đạo Do Thái được xem là đồng nghĩa trong thực tế, và đạo Do Thái là yếu tố chính thống nhất người Do Thái mặc dù mức độ theo đạo đó có khác nhau. Trong thời kỳ của chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế, một vị vua nổi tiếng của Vương quốc Phổ là Friedrich II Đại Đế đã tiến hành khoan dung tôn giáo và gia tăng quyền lợi của cộng đồng Do Thái. Vào năm 1750, ông ra Thánh chỉ phán rằng người Do Thái được quyền làm chủ các trường học, giáo đường và nhà nguyện của họ. Theo sau Thời đại Khai sáng và thời đại Haskalah tương ứng theo truyền thống Do Thái, một sự thay đổi dần dần đã diễn ra mà qua đó nhiều người Do Thái cho mình là thành viên của nước Do Thái là khái niệm khác biệt với theo đạo Do Thái.

    Từ “Yehudi” (số nhiều Yehudim) trong tiếng Hebrew nguyên thủy được dùng để chỉ chi tộc Judah. Sau này, khi phần phía bắc của Vương quốc Israel Thống nhất tách khỏi phần phía nam, thì phần phía nam của Vương quốc bắt đầu đổi tên theo của chi tộc lớn nhất của họ, tức là thành Vương quốc Judah. Từ này ban đầu đề cập đến cư dân của vương quốc phương nam, mặc dù từ B’nei Yisrael (Israelite, người Israel) vẫn được sử dụng cho cả hai nhóm. Sau khi người Assyria chinh phục vương quốc phía bắc để lại mỗi vương quốc phía nam còn tồn tại, từ Yehudim dần dần được dùng để chỉ toàn thể những người theo Do Thái giáo, hơn là chỉ những người trong chi tộc hay là trong Vương quốc Judah. Từ Jew trong tiếng Anh được bắt nguồn từ Yehudi (xem #Thuật ngữ). Sử dụng đầu tiên trong Kinh thánh Tanakh để chỉ đến toàn bộ dân tộc Do Thái được tìm thấy trong Sách Esther.

    Vậy tại sao các thế hệ người Do Thái lại có được trí tuệ như vậy (chỉ số IQ trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới)? Trong cuốn “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu” có đưa ra lời giải thích cụ thể cho vấn đề này.

    Vai trò của bà mẹ Do Thái

    Bà mẹ Do Thái dạy con từ khi mang thai. Các bà mẹ thường nghe nhạc, chơi đàn, hát và… làm toán cho đến khi sinh con ra. Các thai phụ làm vậy vì tin rằng cách đó sẽ làm đứa bé sau này trở nên thông minh. Người mẹ chọn ăn hạnh nhân, chà là, uống dầu cá và ăn cá nhưng tránh ăn đầu cá vì tin rằng tất cả điều đó sẽ giúp cho con trở nên thông thái.

    Từ lúc còn ẵm ngửa đứa bé, bà mẹ đã tạo cho con thói quen thích sách bằng cách dùng mẹo nhỏ vài giọt mật lên cuốn sách và cho bé liếm. Khi đó, trong nhận thức non nớt của đứa trẻ, sách là cái gì đó rất ngọt ngào, hấp dẫn.

    Ủy ban công nghiệp thành phố New York (Mỹ) có cuộc điều tra nguồn nhân lực vào năm 1950 và nhận thấy có sự khác biệt lớn về việc đi làm công nhân giữa phụ nữ Ý với phụ nữ Do Thái. Phụ nữ Ý thường phải đi làm và còn bắt con nghỉ học để đi làm phụ cha mẹ, các bà mẹ Do Thái thì ngược lại. Dù kinh tế khó khăn, họ vẫn ở nhà để nuôi dạy con, dồn hết trách nhiệm kiếm sống cho chồng – người ban ngày đi làm nhưng tối về có nghĩa vụ học và dạy cho con học.

    Nhờ sự chăm sóc, động viên của cha mẹ mà học sinh Do Thái nổi tiếng trong trường về thành tích học tập và tính chuyên cần, khác hẳn với học sinh nhiều dân tộc khác. Vào năm 1954, hệ thống trường công của thành phố New York thống kê được 28 học sinh có chỉ số IQ cực cao lên tới 170 điểm, thì trong đó 24 là học sinh Do Thái. Ngoài ra, những người này còn quan niệm điểm không quan trọng bằng cách học, mà đã học thì phải hỏi. Chính vì vậy, học sinh Do Thái được khuyến khích đặt thật nhiều câu hỏi cho giáo viên.

    Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái…

    Hệ thống giáo dục phổ thông

    Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em gồm kinh doanh, toán học, khoa học. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

    Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biệt nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học.

    Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái.

    Xã hội Do Thái từ rất sớm đã coi trọng việc xóa mù chữ, sách và người có học thức

    Dân tộc Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới – từ năm 64 đầu Công nguyên – mà nhà thờ quy định tất cả nam giới phải biết đọc viết và tính toán; sang thế kỷ thứ 2 thì bắt buộc mọi đàn ông phải có nghĩa vụ dạy con trai mình đọc, viết, tính toán. Như vậy họ đã thực hiện phổ cập giáo dục cho nam giới trước các dân tộc khác mười mấy thế kỷ.

    Israel cũng là nước đứng đầu thế giới về dân số từ 14 tuổi đọc sách, đứng đầu về số đầu sách xuất bản theo đầu dân. Không một người Do Thái thành đạt nào lại không tranh thủ thời gian để đọc, để học, để làm giàu hiểu biết.

    Như vậy, từ ngàn xưa người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được. Và đây nhân tố quan trọng giúp người Do Thái đạt được trí thông minh vượt bậc so với phần còn lại của thế giới.

    Báu vật của người Do Thái: 2 tinh thần đặc biệt tạo nên sức mạnh phục quốc | Giới trẻ

    LTS: Không phải tài nguyên hay ngân khố, BÁU VẬT vô giá của một quốc gia chính là trí tuệ và tính cách của quốc gia đó. Dân tộc nào cũng có trí tuệ và tính cách của riêng mình, khác ở chỗ điều đó được kết tinh – truyền lại sâu sắc đến đâu, được ứng dụng nhạy bén – mạnh mẽ mức nào trong công cuộc tiến hóa. Và Israel đã trở thành điển hình bậc nhất về việc sử dụng trí tuệ và tính cách người Do Thái, để trở thành Quốc Gia Khởi Nghiệp kiểu mẫu của nhân loại đầu thế kỷ 21.

    Kinh tế Việt Nam đang vươn mình mạnh mẽ với hành trình toàn dân khởi nghiệp – chính phủ kiến tạo, vì vậy, càng cần học hỏi từ câu chuyện thần kỳ mang tên Israel. Đó là lý do vì sao Tập đoàn Trung Nguyên Legend, với “Hành trình Từ Trái Tim – Hành trình Lập Chí Vĩ Đại – Khởi Nghiệp Kiến Quốc cho 30 triệu thanh niên Việt” đã chọn “Quốc gia khởi nghiệp” là một trong 5 cuốn sách nền tảng đổi đời đem đi trao tặng, để đem lại sức mạnh tri thức đúng đắn và toàn diện, từ đó chuyển hóa thành sức mạnh tinh thần, sức mạnh vật chất tương xứng, tạo nên sức mạnh của quốc gia.

    Đồng hành với Hành trình Từ Trái Tim, loạt bài viết dưới đây không nằm ngoài mục đích truyền tải đến quý độc giả một cách cô đọng về 10 BÁU VẬT – là trí tuệ và tính cách rất đặc trưng đã được người Do Thái vận dụng để tạo nên cuộc chuyển mình thần kỳ khiến thế giới muôn phần nể phục.

    Từ thời lập quốc, Israel đã quan niệm rằng, để nền kinh tế quốc gia thật sự cất cánh cần 3 nhân tố bổ sung gồm: Làn sóng nhập cư mới, cuộc chiến tranh mới và ngành đầu tư mạo hiểm mới.

    Israel là quốc gia luôn chào đón sự trở về của người Do Thái trên toàn thế giới. Chỉ cần đặt chân đến Israel ngày hôm trước, ngày hôm sau, họ được công nhận quốc tịch, hưởng đầy đủ mọi quyền lợi như tất cả những người đã định cư lâu năm tại đây.

    Gigi Grintein – cố vấn cho cựu Thủ tướng Ehud Barak ở Israel nhận xét: “Người nhập cư không sợ bắt tay lại từ đầu. Họ được định nghĩa là những con người thích mạo hiểm. Quốc gia của những người nhập cư là quốc gia của những người khởi nghiệp”.

    Là một quốc gia lấy nguồn lực nhập cư làm sức mạnh, người Do Thái Israel có 2 đặc tính mà có lẽ ít quốc gia nào có được, đó là tính mạo hiểm và tinh thần dân tộc cực cao.

    Báu vật thứ chín: Tính thích nghi, ưa mạo hiểm

    01: Tính thích nghi ưa mạo hiểm của dân nhập cư

    Từ trước khi lập quốc, Israel đã đặt lên trên hết mục tiêu trở thành ngôi nhà chung để những người do Thái vong quốc, lưu lạc từ mọi nẻo trên khắp hành tinh trở về.

    Năm 1950 (2 năm sau khi nhà nước Do Thái ra đời), Chính phủ Israel đưa ra Luật Hồi quốc, đảm bảo rằng: “Mọi người Do Thái đều có quyền đến với Israel” mà không có hạn ngạch số lượng.

    Luật này cũng định nghĩa một người Do Thái là “người sinh ra từ mẹ là người Do Thái, hoặc đã cải đạo sang đạo Do Thái”. Quyền công dân Israel cũng được cấp cho cả vợ hoặc chồng không phải người Do Thái, cho trẻ em không phải người Do Thái và cháu của người Do Thái cũng như vợ hoặc chồng của họ.




    Báu vật của người Do Thái: 2 tinh thần đặc biệt tạo nên sức mạnh phục quốc - ảnh 3

    Với chính sách Hồi quốc rộng mở này, lịch sử Israel ghi nhận 2 chiến dịch tiếp nhận làn sóng nhập cư rất lớn. Trước hết phải kể đến chiến dịch Moses diễn ra vào năm 1984 đưa hơn 8.000 người Do Thái Ethiopia đến Israel. Độ tuổi trung bình của những người này là 14. Một ngày sau khi đặt chân đến Israel, tất cả đều có quyền công dân.

    Nhiều người Do Thái từ Ethiopia khi nhập cư vào Israel không biết chữ, ngay cả tiếng mẹ đẻ, họ cũng không biết đọc, biết viết. Điều này đã gây áp lực lớn lên nền kinh tế Israel. Nhưng chỉ 7 năm sau chiến dịch Moses, Israel lại tiến hành một chiến dịch không vận khác để đón người Do Thái Ethiopia trở về ngôi nhà chung của dân tộc Do Thái – đất nước Israel.

    Năm 1990, chính phủ Israel và các lực lượng phòng thủ Israel đã khiến thế giới bất ngờ khi chỉ trong 36 tiếng, 34 chuyến bay thẳng IAF C-130 đã chở 14.500 người Do Thái từ Ethiopia đến Israel. Họ được cấp chỗ ở và lương thực, trao quyền công dân.

    Chiến dịch này cũng tạo ra kỷ lục về số hành khách trên một chuyến bay vào ngày 24.5.1991 khi một chiếc Boeing 747 của El Al chở 1.122 hành khách đến Israel nhưng hàng chục đứa trẻ trốn trong áo choàng của mẹ chúng.

    Gần một nửa số người trưởng thành Ethiopia từ 25 đến 54 tuổi không có việc làm, và đa số người Israel gốc Ethiopia sống nhờ trợ cấp Chính phủ. Nhiều chuyên gia nước ngoài dự báo, cộng đồng Ethiopia dù được Chính phủ Israel trợ cấp và hỗ trợ hết mực vẫn sẽ không hoàn toàn hòa nhập và tự lập được trong ít nhất là một thập niên nữa.

    Tuy nhiên, có lẽ họ đã sai khi nhận định như vậy!

    Thực tế, người dân nhập cư đã góp phần tạo ra phép màu kinh tế Israel. Lúc mới lập quốc năm 1948, dân số Israel là 806.000 người. 60 năm sau, con số này là 7,1 triệu người, tức là đã tăng gần 9 lần. Công dân Israel sinh tại nước ngoài chiếm hơn 1/3 dân số cả nước, gần gấp ba lần tỉ lệ tương tự của nước Mỹ. 9 trong số 10 người Do Thái Israel hoặc là dân nhập cư, hoặc là con cháu thế hệ thứ nhất hay thứ hai của dân nhập cư.

    Nếu lời nhận xét rằng người nhập cư cần ít nhất 1 thập kỷ mới hòa nhập được với nền văn hóa, kinh tế – xã hội của Israel thì có lẽ, quốc gia này không thể phát triển thần tốc tới như vậy. Israel đã tăng thu nhập bình quân đầu người từ mức chỉ bằng 25% Mỹ vào năm 1950 lên thành 60% vào năm 1970. Điều này có nghĩa Israel đã tăng gấp đôi tiêu chuẩn sống so với Mỹ chỉ trong vòng 20 năm

    Israel giờ đây là nhà của người dân hơn 70 quốc tịch và nền văn hóa khác nhau. Trên đường phố quốc gia này, bạn có thể ăn gần như bất kỳ đặc sản nào, từ Yemen, Nga, Địa Trung Hải cho đến bánh sừng bò Mỹ. Nấu ăn là việc mà hàng lớp người Do Thái nghèo khổ chọn làm khi mới đặt chân đến Israel.

    Nhưng chỉ một thời gian rất ngắn sau đó, người ta đã thấy dân nhập cư tràn đi khắp nơi. Khi bước chân vào một doanh nghiệp khởi nghiệp hay một trung tâm R&D lớn ở Israel, bạn có thể tình cờ nghe nhân viên nói tiếng Nga.




    Báu vật của người Do Thái: 2 tinh thần đặc biệt tạo nên sức mạnh phục quốc - ảnh 4

    Tính thích nghi và ưa mạo hiểm của dân nhập cư là triệu chứng của một nền kinh tế năng động. Ở những quốc gia phát triển, khi một người đã có công việc tốt hoặc sinh trưởng trong gia đình giàu có, hiếm khi họ chọn cách từ bỏ tất cả để bắt đầu từ con số 0 thực sự. Nhưng ở Israel thì khác. Những con người nhập cư ở một vùng đất mới và đang nghèo túng, cho dù quá khứ có như thế nào, từng giàu có hay nghèo đói thì khi chỉ có 2 bàn tay trắng, họ sẽ thấy mình chẳng còn gì để mất và chỉ nhìn thấy ở phía trước những gì có thể làm được.

    Trong bài viết đầu tiên, khi phân tích về tính luôn nghi ngờ để sáng tạo của người Israel, chúng tôi đã nhắc đến Shai Agassi, người sáng lập Better Place (kinh doanh xe hơi điện và xây dựng trạm đổi ắc quy), người đã giúp đất nước không lệ thuộc vào dầu mỏ. Anh đã từ bỏ vị trí CEO tập đoàn SAP ở Đức để quay về nước khởi nghiệp.




    Báu vật của người Do Thái: 2 tinh thần đặc biệt tạo nên sức mạnh phục quốc - ảnh 5

    Shai Agassi – Thế hệ nhập cư thứ 2 đã làm nên “phép màu” xe hơi điện ở Israel

    Agassi vốn là con trai của một người nhập cư Iraq. Cha của anh đã bị buộc phải rời thành phố Basra ở phía Nam Iraq cùng với gia đình khi mới 9 tuổi. Thời đó, chính quyền Iraq sa thải toàn bộ nhân viên Do Thái, tịch thu tài sản của họ và tùy tiện bắt bớ người thuộc cộng đồng Do Thái. Ở Baghdad, chính quyền thậm chí còn công khai treo cổ tử tù. Gia đình Agassi buộc phải nhập vào dòng lũ 150.000 người tị nạn Iraq đến Israel vào năm 1950.

    Có lẽ vì mang trong mình dòng máu người nhập cư, Shai Agassi cũng có máu liều lĩnh, không ngại bỏ qua tất cả để bắt đầu từ đầu. Những cá nhân như Shai Agassi rất nhiều. Họ là minh chứng của tinh thần quả cảm, luôn sống trong tâm thế không sợ mất mát mà chỉ tin tưởng vào điều mình có thể giành thắng lợi.




    Những lớp học tiếng Hebrew được tổ chức miễn phí cho người nhập cư

    Những lớp học tiếng Hebrew được tổ chức miễn phí cho người nhập cư

    Ngoài sự mạo hiểm, người Israel còn có tính thích nghi rất cao, nhờ thế họ có thể tồn tại ở đất nước đa ngôn ngữ, văn hóa. Một ví dụ điển hình cho tính thích nghi là việc học hỏi ngôn ngữ.

    Cụ thể, Israel thường tổ chức khóa học tiếng Hebrew miễn phí cho dân nhập cư: 5 tiếng mỗi ngày, trong ít nhất 6 tháng. Chính quyền thậm chí còn cung cấp một khoản trợ cấp cho phí sinh hoạt trong thời gian học tiếng, để người nhập cư có thể tập trung vào việc học ngôn ngữ mới thay vì bị phân tâm chỉ học cho xong.

    Chỉ sau 6 tháng, người dân nhập cư có thể sử dụng tiếng Hebrew. Ngày nay, hầu hết người Israel đều nói tiếng Hebrew cùng với một ngôn ngữ khác, chính là thứ tiếng duy nhất họ biết khi đến Israel. Tại Phố Dizengoff náo nhiệt ở Tel Aviv, các quán cà phê cổ ngân nga tiếng Đức. Ở cuối con phố tràn ngập những biển hiệu tiếng Nga, thức ăn Nga… Ở đây, báo chí phát hành bằng tiếng Nga, thậm chí kênh truyền hình tiếng Nga… là điều bình thường.

    Điều quan trọng nhất là việc Israel có thể là nước duy nhất tìm cách tăng số lượng dân nhập cư. Họ không phân biệt trình độ, năng lực dân nhập cư. Bộ Tiếp nhận và Nhập cư Israel chỉ tập trung vào việc mang người nhập cư về nước.

    Nếu người Israel nghe thấy trên đài phát thanh rằng lượng người nhập cư trong năm giảm, đây được xem là tin xấu, giống như việc năm đó thiếu lượng mưa cần thiết. Thủ tướng khi tranh cử còn thường cam kết sẽ “mang đến một triệu người nhập cư nữa” trong nhiệm kỳ của họ.

    Có nhiều người nhập cư, vừa mới đến đã lao vào chiến đấu, cầm trên tay khẩu súng để bảo vệ nhà nước Israel. Có những người nhập cư, chỉ sau 6 tháng đến 1 năm đã trở thành kỹ sư công nghệ giỏi và họ đã và đang đóng góp nhiều hơn thế cho Israel. Điều quan trọng nhất, có lẽ là họ sản sinh ra thứ văn hóa ưa mạo hiểm, tính thích nghi cao độ với hoàn cảnh mới.

    02: Tính thích nghi, ưa mạo hiểm vì điều kiện thiên nhiên

    Nếu không có người nhập cư, Israel đã không có ngày hôm nay. Nhưng nếu xét cụ thể về tính thích nghi và ưa mạo hiểm, có lẽ chúng ta cũng cần nói đến một nguyên nhân sâu xa khác, đó là khả năng thích nghi, ưa mạo hiểm của người dân, một phần bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên của Israel.

    Sự thích nghi của người Israel với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt có thể nhận thấy rõ nhất ở các nông trang. Trong suốt Cuộc chiến Độc lập năm 1948, nông trang Hatzerim đã bị tấn công và cắt đứt nguồn nước mà họ phải mất một năm mới xây dựng xong đường ống có đường kính 6 inch dẫn nước ngọt từ khu vực cách đó 40 dặm về.

    Sau khi cuộc chiến kết thúc, do đất bị nhiễm mặn, khó canh tác, năm 1959, những thành viên nông trang đã tranh cãi về chuyện đóng cửa Hatzerim để chuyển đến địa điểm khác có môi trường thân thiện hơn. Nhưng cuối cùng, cộng đồng này đã quyết định ở lại khi nhận ra vấn đề đất nhiễm mặn không chỉ ảnh hưởng đến Hatzerim mà hầu như là toàn bộ vùng Negev. Hai năm sau, thành viên quản lý nông trang Hatzerim đã thau rửa đất đai tới mức có thể trồng trọt được.




    Báu vật của người Do Thái: 2 tinh thần đặc biệt tạo nên sức mạnh phục quốc - ảnh 7

    Ngày nay, Israel dẫn đầu thế giới về tái chế nước thải: Hơn 70% lượng nước được tái chế, gấp ba lần tỷ lệ tại Tây Ban Nha, quốc gia đứng vị trí thứ hai. Nhưng nông trang Mashabbe Sade, cũng trong sa mạc Negev còn đi xa hơn, họ tái chế nước đến 2 lần.

    Dù thế, các nông trang viên vẫn không ngừng tìm kiếm những điều mới mẻ từ ngay trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Họ đào giếng sâu bằng chiều dài 10 sân bóng đá và phát hiện nguồn nước vừa ấm vừa mặn. Giáo sư Samuel Appelbaum, trường Đại học Ben-Gurion tại Negev nhận ra, đây là nguồn nước hoàn hảo để nuôi cá nước ấm.

    “Thật không đơn giản khi phải thuyết phục mọi người rằng nuôi cá trên sa mạc là việc làm có ý nghĩa”, nhà ngư học Appelbaum nói. “Nhưng việc đập tan ý nghĩ rằng đất đai cằn cỗi đồng nghĩa với vô dụng là rất quan trọng”.

    Các nông trang viên bắt đầu bơm nguồn nước nóng 37 độ C vào trong các bể chứa cá rô phi, cá chẽm và cá vược để sản xuất thương mại. Sau khi được dùng trong bể cá, chỗ nước chứa chất thải của cá giờ lại là nguồn phân bón hoàn hảo cho các rặng cây chà là và ôliu. Các nông trang cũng tìm ra cách trồng rau và cây ăn trái được tưới trực tiếp bằng nguồn nước ngầm vừa ấm, vừa mặn ấy.




    Báu vật của người Do Thái: 2 tinh thần đặc biệt tạo nên sức mạnh phục quốc - ảnh 8

    Một thế kỷ trước, Israel đã được Mark Twain và nhiều du khách khác miêu tả là vùng đất đa phần cằn cỗi. Giờ đây nơi này có khoảng 240 triệu cây xanh do hàng triệu người cùng trồng. Rừng cây được trồng trên khắp đất nước khiến điều kiện tự nhiên của Israel được cải tạo rất tốt. Israel là quốc gia duy nhất đẩy lùi được sa mạc, ngăn chặn hiện tượng sa mạc hóa và cải tạo đất bán sa mạc thành khu vực rừng xanh hoặc canh tác.

    Có thể nói, Israel là một nước mà người dân thường trực phải xuất phát ở vạch mốc khó khăn và họ đã vươn lên mãnh liệt. Nền kinh tế Israel không chỉ mở rộng, mà còn trải qua “cú nhảy vọt”, diễn ra khi một nước đang phát triển thu hẹp khoảng cách thu nhập theo đầu người với những quốc gia giàu có ở thế giới thứ nhất.

    Để làm được điều đó, Israel đã dựa vào nguồn vốn duy nhất là con người – những con người liều lĩnh, dám mạo hiểm và thích nghi cao với mọi hoàn cảnh, nghịch cảnh. Từ những người nhập cư, phải di chuyển đến mảnh đất xa lạ, bị mất sạch mọi thứ và phải bắt đầu lại từ đầu đến những người ngày làm CEO, đêm tham gia chiến đấu và những nông trang viên buộc phải canh tác, sản xuất lương thực trên sa mạc…. Tất cả họ đều có ý chí, nghị lực kiên cường và điều ấy phần nào bắt nguồn từ tinh thần dân tộc.

    Báu vật thứ mười: Tinh thần dân tộc

    01: Tinh thần hướng về nguồn cội

    Ngày nay, rất nhiều quốc gia, trong đó có cả Việt Nam thường than phiền về việc bị nước ngoài thu hút các tinh hoa doanh nhân và học giả thì Israel lại cho thấy “chảy máu chất xám” không hẳn là đường một chiều. Ở quốc gia này, họ nhìn nhận vấn đề ấy là “lưu chuyển chất xám”. Nghĩa là người tài sẽ ra đi và định cư ở nước ngoài rồi lại quay về cố hương. Khái niệm để chỉ lớp người như vậy được gọi là Argonaut và nó phát triển phổ biến đến nỗi hình thành nên một nét văn hóa cá biệt ở Israel.

    Tác giả Richard Devane viết trong một nghiên cứu được Ngân hàng Thế giới công bố rằng: “Trung Quốc, Ấn Độ và Israel được hưởng nguồn đầu tư hoặc bùng nổ công nghệ trong hơn một thập kỷ qua, và những đợt bùng nổ này được liên kết với nhau bởi sự lãnh đạo từ cộng đồng những người làm việc ở hải ngoại của cả ba nước này”.




    Báu vật của người Do Thái: 2 tinh thần đặc biệt tạo nên sức mạnh phục quốc - ảnh 9

    Israel là một quốc gia đi sau nhưng đã trở thành trung tâm toàn cầu của sáng tạo. Theo các chuyên gia nghiên cứu về việc di cư, những người đóng vai trò tiên phong trong hành trình ấy chính là lớp người Argonaut – Những kẻ đã đi ra nước ngoài, đắm chìm trong nền văn hóa của Thung lũng Sillicon để học hỏi.

    Điều này bắt đầu vào cuối những năm 1980. Một vài ví dụ tiêu biểu cho lớp người ấy là Shai Agassi – người đã bỏ nước Đức quay về Israel khởi nghiệp. Hay như Michael Laor tại Cisco và Dov Forhman tại Intel… dù đã chiếm giữ vị trí quan trọng trong những Tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới, họ vẫn nuôi dự định quay về Israel. Nhiều doanh nhân Israel sau khi starup, bán công ty khởi nghiệp đã ra nước ngoài làm việc nhưng sau một thời gian, họ lại quay về và trở thành chất xúc tác cho sự phát triển công nghệ của Israel, xây dựng những hoạt động dùng người Israel, vốn tạo ra các bước đột phá quan trọng cho tập đoàn nơi họ làm việc.

    Ngoài lớp người Argonaut, sự phát triển của Israel còn có đóng góp không nhỏ của cộng đồng Do Thái hải ngoại Diaspora không thuộc quốc tịch Israel. Câu hỏi đặt ra là bản tính hướng về cội nguồn của người Do Thái là bẩm sinh hay được kích hoạt bởi các điều kiện đặc biệt?

    Thực tế, nó được kích hoạt nhờ chính sách của Israel. Trong những năm đầu thành lập nhà nước, sự nghèo nàn, lạc hậu của Israel không thu hút người Do Thái trở về. Thế nhưng chính những chính sách cởi mở, dám đặt niềm tin vào người ngoại quốc cũng như sự nỗ lực vươn lên phát triển kinh tế đã khiến người Do Thái hải ngoại phải chú ý đến Israel và cũng từ đây, họ bắt đầu phát triển tình yêu với nhà nước Do Thái.




    Chân dung Al Schwimmer

    Một ví dụ điển hình cho lớp người này là Al Schwimmer – kỹ sư hàng không đến từ Los Angeles. Tên của Schwimmer là Adolph, nhưng do bối cảnh Thế chiến II, anh đổi thành Al.

    Trong suốt cuộc chiến, nhân thân Do Thái của Schwimmer không có nhiều ý nghĩa với anh. Nhưng việc xem các phim tư liệu quay hàng đống xác người Do Thái bị sát hại trong nạn diệt chủng của Đức Quốc Xã , Schwimmer đã trở thành người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái tận tụy.

    Al Schwimmer sau này đã trở thành nhân tố quan trọng giúp làm nên ngành hàng không và sản xuất máy bay dân sự cũng như chiến đấu của Israel. Ý tưởng về những chiếc máy bay xuất phát đầu tiên từ việc muốn đưa những người Do Thái châu Âu bị chính quyền Anh từ chối tị nạn quay về Israel. Schwimmer đã nghĩ ra ý tưởng bay qua đầu các tàu tuần tiễu của hải quân Anh và chở lậu người Do Thái hạ cánh xuống các địa điểm bí mật.




    Một số mẫu máy bay khác của Israel

    Một số mẫu máy bay khác của Israel

    Sau Thế chiến II, nhận thấy thế giới đang dư thừa quá nhiều máy bay, Schwimmer cho rằng chẳng có lý do gì để Israel không mua máy bay với giá rẻ, rồi sửa chữa, nâng cấp và bán lại cho quân đội và hãng hàng không của các nước khác, trong khi vẫn xây dựng ngành sản xuất máy bay thương mại của riêng Israel. Anh đã gặp Peres và Ben-Gurion – 2 nhà lãnh đạo vốn rất hào hứng với việc sản xuất máy bay.

    Chính Ben-Gurion là người đã thuyết phục Schwimmer đến Israel định cư và đóng góp cho nền hàng không quốc gia. Lúc đó, Schwimmer nói với Ben-Gurion rằng ông chỉ bắt tay thực hiện với điều kiện công ty này không bị thói tiến cử “con ông cháu cha” làm hại, không được có chuyện dùng ảnh hưởng chính trị để có việc làm. “Đây sẽ là một công ty tư nhân, được tổ chức theo các nguyên tắc thương mại”, Schwimmer nói với Ben-Gurion.

    “Anh là người thích hợp cho Israel. Hãy đến đây”, Ben-Gurion đáp lời. Sau cuộc gặp gỡ định mệnh ấy, dù vấp phải sự phản đối gắt gao của Chính phủ Israel, Ben-Gurion và Peres vẫn hỗ trợ hết sức để Schwimmer có thể thực hiện giấc mơ chế tạo máy bay. Từ một đất nước không chế tạo nổi chiếc xe đạp, trong vòng 5 năm, Bedek – công ty của Schwimmer đã trở thành doanh nghiệp tư nhân tuyển dụng nhiều lao động nhất trong cả nước.

    Đến năm 1960, Bedek sản xuất biến thể của mẫu chiến đấu cơ Fouga của Pháp. Tại buổi ra mắt và bay thử chính thức của chiếc máy bay ấy, Ben-Gurion đã nói với Schwimmer: “Nơi này không còn là Bedek nữa. Anh đã đi xa hơn công việc sửa chữa thuần túy. Các anh đã chế tạo một chiếc phi cơ. Nên đổi tên công ty thành Israel Aircraft Industries (Công nghiệp Hàng không Israel)”.




    Fouga CM.170 Magister là chiếc máy bay huấn luyện phản lực hai chỗ ngồi được Pháp chế tạo vào thập niên 1950. 10 năm sau, một nhà nước mới thành lập - Israel đã có thể chế tạo thành công chiến đấu cơ này. Nguồn: https://alchetron.com

    Fouga CM.170 Magister là chiếc máy bay huấn luyện phản lực hai chỗ ngồi được Pháp chế tạo vào thập niên 1950. 10 năm sau, một nhà nước mới thành lập – Israel đã có thể chế tạo thành công chiến đấu cơ này.

    Rõ ràng, những người Israel ở hải ngoại đã đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển của Israel. Sau khi sinh sống ở nước ngoài, nhiều người đã quay lại để làm giàu cho quê hương. Một số người gốc Do Thái không có quốc tịch Israel, nhờ những chính sách thuyết phục đã hun đúc lại tinh thần Phục Quốc, giúp tạo ra một trong những cú hích dài hạn lớn nhất cho nền kinh tế Israel mà không cần kêu gọi vốn đầu tư, dù chỉ một đồng USD.

    02: Tinh thần nâng cao vị thế dân tộc trên trường quốc tế

    Israel là nơi nhiều Tập đoàn công nghệ hàng đầu mở chi nhánh và trung tâm nghiên cứu phát triển R&D. Rất nhiều người Israel đang ngày đêm cống hiến giá trị trong những công ty nước ngoài. Trong bài viết lần trước, khi phân tích tinh thần quốc tế, chúng tôi đã kể đến trường hợp của chi nhánh Intel Israel.




    Tòa nhà Intel tại Israel, thành phố ven biển phía bắc Haifa. (Nguồn: StockStudio / Shutterstock.com)

    Tòa nhà Intel tại Israel, thành phố ven biển phía bắc Haifa

    Nguồn: StockStudio / Shutterstock.com

    Những người kỹ sư của Intel Israel đã tranh cãi không mệt mỏi để thuyết phục ban lãnh đạo tại Santa Clara chấp nhận sản xuất dòng chip mới tiết kiệm điện. Điều đó là vì tinh thần cống hiến cho thời đại, cho giá trị chung trong lĩnh vực công nghệ trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, nó cũng xuất phát từ một nhân tố khác: Lòng tự hào dân tộc và mong muốn nâng cao uy tín, giá trị con người Israel trên bản đồ thế giới.

    Một ví dụ khác sẽ minh chứng sâu sắc hơn cho tinh thần dân tộc này, đó là câu chuyện xảy ra với Frohman – người phụ trách Intel Israel.

    Năm 1991, trong bối cảnh chiến sự với Iraq, Frohman thông báo đến nhân viên quyết định đơn phương của ông rằng Intel Israel sẽ hoạt động trong suốt cuộc chiến. Điều này tức là chống lại mệnh lệnh từ chính quyền. Quyết định ở lại làm việc hay từ chối lời đề nghị của Frohman của nhân viên được dựa trên tinh thần tự nguyện: Không nhân viên nào bị phạt nếu vắng mặt.




    Dov Frohman năm 1976 (Ảnh: Intel) - Người đã quyết định chi nhánh Intel Israel vẫn hoạt động trong tình trạng đất nước có chiến tranh

    Dov Frohman năm 1976 (Ảnh: Intel) – Người đã quyết định chi nhánh Intel Israel vẫn hoạt động trong tình trạng đất nước có chiến tranh

    Đây là quyết định rất liều lĩnh bởi phía Iraq có tên lửa Scud có thể bay đến Tel Aviv trong chưa đầy mười phút, và những tên lửa này có thể được trang bị đầu đạn hóa học. Chính quyền đã thuyết phục Frohman đóng cửa Intel Israel vì có quá nhiều rủi ro. Tuy nhiên, nếu làm theo lệnh, Intel Israel sẽ gặp rắc rối lớn.

    Lý do là thời điểm này đang là giai đoạn nước rút của dự án quan trọng mà Intel Israel đã được tập đoàn giao phó. Năm 1985, IBM cho phép Intel trở thành nhà sản xuất duy nhất các con chip vi xử lý 286 để chạy hầu hết máy tính để bàn mới của thế giới. Chiến lược này sẽ tối đa hóa lợi nhuận của Intel, nhưng cũng làm tăng rủi ro. Trong đó, rủi ro lớn hơn là quyết định của ban lãnh đạo Intel ở Santa Clara là tập trung phần lớn trách nhiệm này cho Israel.




    Nhân viên Intel khoảng năm 1976. Ảnh: Intel

    Nhân viên Intel khoảng năm 1976

    Tuy nhiên, khi xảy ra chiến sự, Frohman không đóng cửa chi nhánh Intel Israel không hoàn toàn chỉ vì uy tín của công ty ông. Điều đó được bắt nguồn từ nỗi sợ lớn hơn.

    “Tôi cứ nghĩ mãi về sự tồn vong của nền kinh tế công nghệ cao vốn vẫn còn non yếu của Israel. Chướng ngại chính dẫn đến các khoản đầu tư lớn hơn vào Israel là ấn tượng dai dẳng về sự bất ổn địa chính trị trong khu vực. Nếu Intel không thể hoạt động trong một tình huống khẩn cấp, thì bất kỳ niềm tin nào của các tập đoàn đa quốc gia, nhà đầu tư hay thị trường vào sự ổn định của Israel sẽ lập tức sụp đổ”.

    Lo ngại của Frohman là hoàn toàn có cơ sở nhưng nó đã trở thành nỗi lo không đáng bởi nhân viên của ông là những người có tinh thần chiến đấu tuyệt vời. 75% nhân viên toàn công ty vẫn có mặt để làm việc hết mình. Sau cuộc tấn công bằng tên lửa thứ hai của Iraq vào đêm tiếp theo, số lượng nhân viên tại trung tâm thiết kế Haifa của Intel đã tăng lên 80%. Những đợt tấn công càng tàn khốc bao nhiêu, hiệu quả làm việc càng lớn bấy nhiêu.




    Một số hình ảnh về Haifa, Israel

    Một số hình ảnh về Haifa, Israel

    Những nhà lãnh đạo tại đại bản doanh Santa Clara của Intel không thể hiểu được điều này. Một nhóm công nhân Intel còn lập nhà trẻ dã chiến ngay trong nhà máy, do trường học đều đã đóng cửa, và nếu nhân viên muốn là một phần trong sứ mệnh phản kháng của Frohman, họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc mang theo con cái đến chỗ làm. Ngoài công việc chính, họ còn tình nguyện thay phiên trông nom nhà trẻ.

    Lời giải thích cho điều này liên quan đến nhiều thứ khác hơn là tài năng kỹ sư thuần túy. Nó là vấn đề của những nhân tố kém hữu hình hơn: Lòng tự tôn dân tộc. Người Israel có một thuật ngữ cho điều này: “Davka”, một từ Hebrew khó dịch bao gồm nghĩa c

    Lịch sử thăng trầm 4000 năm của người Do Thái (P.1)

    Print Friendly, PDF & Email

    Lastman,_Pieter_-_Abraham's_Journey_to_Canaan_-_1614

    Tác giả: Đặng Hoàng Xa

    “Mọi sự đều sẽ hết, nhưng người Do Thái thì không. Tất cả các thế lực khác sẽ qua đi, nhưng Họ vẫn còn. Bí mật trong sự bất tử của Họ là gì?” – Văn hào Mark Twain

    Người Do Thái trên vùng đất Israel (Canaan)

    Sự ra đời của đức tin

    Người Do Thái có nguồn gốc từ người Hebrew cổ đại xuất hiện tại Trung Đông vào 4.000 năm trước. Theo truyền thuyết, người Do Thái và người Ả Rập là con cháu dòng dõi từ Abram (tên lúc sinh của Abraham) là người đã vâng theo lời gọi của Thượng Đế rời bỏ quê hương ở thành Ur thuộc phía Bắc vùng Mesopotamia (Lưỡng Hà) – nay là Đông-Nam Thổ Nhĩ Kỳ, đến lập nghiệp tại xứ Canaan, một vùng đất kéo ngang từ bờ sông Jordan tới biển Địa Trung Hải ngày nay.

    Đó là vào khoảng năm 2.000 TCN. Theo Sách Xuất Hành trong Kinh Thánh, Abram cùng gia đình rời bỏ quê hương ở Ur đi đến Harran. Tại đó, Abram đã nhìn thấy Thượng Đế trong giấc mơ và được Người chỉ đường tới vùng đất Canaan. Thượng Đế cũng lập Giao Ước với Abram rằng: “Ta là Thiên Chúa toàn năng, và Ta lập Giao Ước với ngươi. Ngươi sẽ là tổ phụ của nhiều dân tộc, và để đánh dấu Giao Ước này, ngươi sẽ đổi tên thành Abraham (có nghĩa là “cha của nhiều dân tộc”). Ta sẽ giữ lời hứa, và xứ Canaan sẽ thuộc về ngươi và dòng dõi của ngươi đời đời; và Ta sẽ là Thiên Chúa của họ.” Xứ Canaan về sau được gọi là Đất Hứa (Promised Land) là vì vậy. Abraham chấp nhận Giao Ước, và nguyện sẽ tôn thờ Thượng Đế – Đức Jehovah[1] – là Thiên Chúa duy nhất của vũ trụ.

    Lịch sử của dân tộc Do Thái bắt đầu với câu chuyện của gia đình Abraham như thế. Họ trở thành một thị tộc (clan), rồi phát triển lớn hơn thành một bộ tộc (tribe), và cuối cùng cắm rễ để trở thành một dân tộc (nation) – dân tộc Do Thái.

    Theo Kinh Thánh, Thượng Đế tạo nên trái đất, sau đó tạo ra con người. Tên của con người đầu tiên là Adam. Con cháu của Adam và Eva dẫn tới Noah.[2] Con trai lớn của Noah là Shem trở thành tổ tiên của các giống dân Do Thái và Ả-rập. Do đó, phát sinh danh từ ‘Semites’ để gọi chung người Do Thái và Ả-rập, có nghĩa là ‘con cháu của Shem’. Con cháu của Shem dẫn đến Abraham. Abraham cưới Sarah nhưng không có con cho nên Abraham lấy Hagar làm vợ thứ. Hagar sinh cho Abraham một con trai là Ishmael, và rồi cùng lúc người vợ đầu Sarah may mắn có bầu và sinh con trai đặt tên là Isaac. Sarah sau đó đòi Abraham đầy Hagar và Ishmael ra khỏi bộ tộc. Kinh Koran của Hồi giáo theo sát Kinh Thánh Cựu Ước cho đến thời điểm này nhưng bắt đầu tách ra từ đây. Theo Kinh Koran, Ishmael đi tới Mecca và con cháu của Ishmael phát triển mạnh khắp bán đảo Ả-rập và trở thành người Hồi giáo. Còn con cháu của Isaac vẫn ở lại Palestine và trở thành tổ tiên của người Hebrew mà sau này chúng ta gọi là Israelites rồi Jews, gọi chung trong tiếng Việt là người Do Thái. Trong rất nhiều thế kỷ người Hồi giáo và người Do Thái, mặc dù cùng chung một nguồn gốc, vẫn không hết thù ghét nhau phần lớn là do kỳ thị tôn giáo. Phải chăng đây là một lời nguyền nghiệt ngã mà Thượng Đế đã đặt lên số phận người Do Thái và người Ả Rập!

    Tiếp tục với câu chuyện về gia đình Abraham. Sau khi Abraham chết, trách nhiệm lãnh đạo được truyền lại cho con trai của ông là Isaac, và rồi đến con trai của Isaac là Jacob. Jacob về phần mình có mười hai người con trai. Tất cả từ Abraham, Isaac, Jacob cho đến mười hai người con trai của Jacob được gọi là ‘tổ phụ’ (Patriarchs) tức là tổ tiên của dân tộc Do Thái. Chữ Israel lần đầu tiên được dùng trong Kinh Thánh có liên quan đến Jacob. Một đêm, Jacob nằm mơ vật lộn với một người lạ, và sau đó, chính người lạ ấy – hình bóng của Thượng Đế – đã chúc phúc và đặt cho Jacob cái tên Israel, có nghĩa là ‘Kẻ chiến đấu với Thượng Đế’. Kể từ đó, người Hebrew được gọi là Bnei Yisrael – ‘Son of Israel’ (Những người con của Israel) – hoặc Israelites.

    Theo thời gian, từ dân tộc Do Thái đã ra đời ba tôn giáo lớn nhất và ảnh hưởng nhất trên thế giới, khởi đầu là Do Thái giáo vào khoảng năm 1500 TCN, tiếp theo là Ki-tô giáo được Chúa Jesus sáng lập vào giữa thế kỷ 1 như một nhánh ly khai từ Do Thái giáo, và sau đó là Hồi giáo được nhà tiên tri Muhammad sáng lập vào thế kỷ 6. Tuy nguyên thủy không phải là một nhánh ly khai từ Do Thái giáo hay Ki-tô giáo, Hồi giáo tự cho mình là sự tiếp nối hoàn hảo và thay thế cho hai tôn giáo nói trên. Sự ra đời của ba tôn giáo cùng những bản văn thiêng liêng đã tạo nên Kinh Thánh – cuốn sách được đọc rộng khắp nhất qua mọi thời đại. Kinh Torah của Do Thái giáo (hay còn được gọi là Kinh Cựu Ước theo Ki-tô giáo) đã đem lại nguồn cảm hứng cho 14 triệu tín đồ Do Thái giáo, hai tỷ tín đồ Ki-tô giáo, và được kể lại trong Kinh Koran cho 1,5 tỷ tín đồ Hồi giáo.

    Canaan và người Canaan ( Canaanites)

    Canaan nằm ở nơi giao nhau của các nền văn minh, kết nối ba châu lục Phi, Âu và Á. Nếu như ngày nay người ta tin rằng con người có nguồn gốc từ châu Phi, thì tổ tiên của tất cả người châu Á và châu Âu chắc chắn đã đi qua vùng đất này.

    Khi các Đế quốc lần lượt nổi lên thì vùng đất Canaan trở thành địa điểm chiến lược. Nó trở thành một hành lang nằm giữa biển và sa mạc, cung cấp cho các đoàn thương nhân và các đạo quân chinh phục một con đường độc nhất xuyên giữa các quốc gia rộng lớn và hùng mạnh xung quanh. Những trận đánh dữ dội đã diễn ra trên và quanh vùng đất Canaan. Tất cả những điều này khiến Canaan trở thành lời nguyền cũng như phước lành cho các dân tộc nhỏ sống ở đó. Trong số các dân tộc này có tổ tiên của người Do Thái.

    Có rất ít bằng chứng vật chất về người Do Thái đầu tiên. Phần lớn những điều chúng ta biết về người Do Thái là qua Kinh Torah – một tài liệu rất có khả năng thiếu sót nếu được xem là một tư liệu tham khảo lịch sử.

    Như đã nói trong Kinh Thánh, sự tồn tại của người Canaan (gọi là Canaanites) của Palestine có thể được xác nhận, cũng như người Moabites, Amorites, và Edomites ở phía đông, vương quốc Aram ở phía bắc. Những bảng đất sét Ebla (Ebla Tablets) có chạm khắc trong khoảng thời gian rất sớm là năm 2350 TCN được đào thấy ở thành cổ Ebla thuộc miền Bắc Syria cho biết manh mối về người Canaan. Những lá thư giao dịch Mari (Mari Letters[3]) và Amarna (Amarna Letters[4]) đều viện dẫn đến những người du mục lang thang gọi là Habiru hay Apiru, tựa như rất giống người Hebrew. Habiru hoặc Apiru là tên gọi đã được tìm thấy trong các nguồn di tích khác nhau từ Sumerian, Ai Cập, Akkadian, Hittite, Mitanni, Ugaritic (trong khoảng thời gian giữa 1800-1100 TCN) cho một nhóm người xâm lăng du cư trong các khu vực của Fertile Crescent (vùng Lưỡi liểm Phì nhiêu) từ đông bắc Mesopotamia và Iran đến biên giới của Ai Cập ở Canaan. Tùy thuộc vào nguồn và thời đại, những người Habiru này được mô tả là dân du mục hoặc bán du mục, phiến quân, ngoài vòng pháp luật, cướp, lính đánh thuê, tôi tớ, nô lệ, lao động phục dịch, vv…

    Một giả thuyết khá thuyết phục hiện nay cho rằng người Do Thái cổ đại mà chúng ta gọi là Hebrew là pha trộn của người Canaan và người Habiru, hoặc dân cướp Shasu Bedouin là những người sau này khẳng định có nguồn gốc từ Ur. Theo thời gian có vẻ như họ đã đạt tới biểu tượng của nền văn minh, với một ngôn ngữ mẹ đẻ tinh tế. Tiếng Hebrew thuộc cùng hệ ngôn ngữ Semitic[5] như tiếng Canaanite, Phoenician và Punic, nhưng cho đến nay chỉ có tiếng Hebrew là còn sót lại. Người Canaan cũng phát triển bảng chữ cái phụ âm đầu tiên của thế giới trong thế kỷ 18 và 17 TCN. Được phổ biến bởi người Phoenician thông qua thương mại, bảng chữ cái này hình thành các mẫu (template) cho các hệ thống mẫu tự Hebrew, và sau đó cho tiếng Hy Lạp, Latinh và tiếng Ả Rập.

    Về chính trị, Abraham, Isaac và Jacob chỉ là những diễn viên nhỏ tại vùng đất Canaan giữa vô số những bộ lạc lớn hơn xung quanh. Trong suốt thiên niên kỷ thứ 2 TCN, Canaan chỉ là một tỉnh của một trong những cường quốc trong khu vực hồi đó: Ai Cập ở phía nam, Babylon[6] và Mesopotamia ở phía bắc. Những cường quốc này tự phụ là có những hệ thống quản trị tiên tiến, sở hữu công nghệ quân sự mới nhất, và buôn bán mở mang vượt ra khỏi biên giới. Không ai thoát khỏi ảnh hưởng của họ cả về vật chất như nghệ thuật và kiến trúc, cũng như tinh thần.

    Những truyền thuyết và các chuẩn mực xã hội của Mesopotamia rõ ràng đã ảnh hưởng và đem lại màu sắc cho những phong tục tập quán của người Do Thái những ngày đầu.

    Di cư đến Ai Cập

    Pharaoh[7] Djoser [2650-2575 TCN] xây dựng kim tự tháp đầu tiên vào năm 2650 TCN tại Saqqara và khởi đầu cho Cổ Vương Quốc Ai Cập (Old Kingdom of Egypt) đóng đô tại Memphis. Cổ Vương Quốc đã bị tan rã trước tình trạng hỗn loạn vào năm 2180 TCN. Trong khoảng 200 năm, Ai Cập bị chia đôi thành Vương quốc miền Bắc và Vương quốc miền Nam và cuối cùng thống nhất thành Vương Quốc Ai Cập (Middle Kingdom of Egypt) vào khoảng năm 2000 TCN dưới quyền trị vì của Pharaoh Mentuhotep II đóng đô tại Thebes.

    Sau năm 1800 TCN, bùng nổ kinh tế ở Ai Cập đã lôi kéo hàng ngàn người ngoại quốc di cư đến đây, trong đó có cả người Palestine. Họ lập nên những cộng đồng riêng và có cả vua riêng của họ.

    Tại Canaan, một trăm năm sau Abraham, vào thời đại của Jacob, đất Canaan rơi vào cảnh mất mùa đói kém. Dân Do Thái lại phải tiếp tục di cư tìm kiếm những đồng cỏ mới. Lúc này, đất Ai Cập với phù sa sông Nile là vựa lúa của vùng Địa Trung Hải và là miền đất hứa cho các dân tộc quanh đó tìm đến khi gặp đói kém hoạn nạn. Toàn thể gia tộc của Jacob với nhân số khoảng 70 người dưới sự dẫn dắt của Jacob di cư sang Ai Cập. Chuyến đi tị nạn tưởng chỉ một đôi vụ mùa, ngờ đâu kéo dài tới 400 năm. Mười hai người con trai của Jacob phát triển thành 12 chi tộc sống ở Goshen, vùng đất phì nhiêu của Ai Cập, thuận lợi cho việc trồng trọt và chăn nuôi. Người Do Thái chuyển từ cuộc sống du mục sang cuộc sống định cư nông nghiệp. Rồi thời thế lại thay đổi, 70 người di dân nay phát triển thành hàng trăm ngàn người, và trở thành mối lo ngại cho người Ai Cập rằng sự phát triển của người Do Thái có thể gây tổn hại đến Đế chế Ai Cập. Các Pharaoh về sau quay lưng lại ngược đãi người Do Thái, bóc lột họ như nô lệ, ép họ phải đi lao dịch nặng nhọc và độc ác nhất là ra lệnh dìm chết tất cả những bé trai Do Thái mới lọt lòng nhằm dần dần tiêu diệt dân Do Thái.

    Những tư liệu của Ai Cập chưa bao giờ đề cập đến sự tồn tại của người Do Thái dọc theo sông Nile. Thậm chí Kinh Thánh không nói gì trong quãng thời gian 400 năm giữa thời Joseph (con cả của Jacob) và Moses. Tuy nhiên điều đó không phải là không chứng minh sự có mặt của người Do Thái ở Ai Cập. Trong khoảng thời gian 1700-1550 TCN, một nhóm người gọi là Hyksos nổi lên và có vẻ như đã loại trừ tất cả các thủ lĩnh người bản địa. Câu hỏi rằng nhóm người này gốc gác ở đâu cho đến nay vẫn là một ẩn số. Một vài học giả cho rằng đó là người Semite, một vài người khác cho rằng đó là người Ấn-Âu (Indo-European) từ Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại). Nhiều sử gia, quay lại tham khảo sử gia Ai Cập Manetho (thế kỷ 3 TCN), suy luận rằng đó là người Do Thái.

    Moses

    Giữa hoàn cảnh nô lệ đầy khổ cực của người Do Thái, một cứu cánh đã đến, như một phép màu, đã giải cứu dân Do Thái khỏi ách nô lệ. Đó là sự xuất hiện của Moses vào khoảng thế kỷ 15-14 TCN.

    Theo lời kể lại trong Kinh Thánh, Moses là một người kiệt xuất: nhà lãnh đạo dân tộc, nhà thông thái, người mang tư tưởng kiến thiết xã hội, người thầy thực tế, một con người đầy lòng trắc ẩn, cấp tiến, và đôi khi cũng là một bạo chúa. Moses là người đã dẫn dắt dân Do Thái trong cuộc hành trình Exodus ra khỏi Ai Cập. Moses cũng là người Hebrew đầu tiên đã có ảnh hưởng lên thế giới cổ đại. Người Hy Lạp đã xếp Moses đứng cùng hàng với các vị thần và anh hùng của họ.

    Nguồn thông tin duy nhất mà chúng ta có về cuộc đời của Moses là từ Kinh Torah. Không có bất cứ một hé lộ nào về Exodus trong các tư liệu của Ai Cập. Tuy nhiên vị trí tâm điểm của Moses đối với Do Thái giáo là không thể chối cãi.

    Tên gọi ‘Moses’ có thể có nguồn gốc Ai Cập. Theo lời kể trong Kinh Thánh, Moses được sinh ra ở Ai Cập, bố là Amram người Levite, và mẹ là Jochebed người Do Thái. Người Do Thái sống gần 400 năm trong sự hòa đồng với người Ai Cập trên vùng đất Goshen phía đông của đồng bằng sông Nile. Khi một Pharaoh mới lên cầm quyền và ra lệnh giết tất cả những trẻ sơ sinh trai Do Thái, người chị của Moses là Miriam đã dấu Moses trong một bụi cây bồ hoàng cho đến khi công chúa Thermuthis con gái Pharaoh phát hiện ra. Công chúa mang bé trai về cung và đặt tên là Moses. Từ đó Moses được nuôi dưỡng và lớn lên như một hoàng tử trong hoàng cung.

    Một hôm, Moses giết chết một người lính Ai Cập khi chứng kiến người lính này đánh đập một người nô lệ Do Thái. Lo sợ bị phạt, Moses bỏ trốn hoàng cung chạy đến Ethiopia làm người chỉ huy quân đội. Sau đó ông di chuyển đến sa mạc Jordan làm người chăn cừu cho linh mục Jethro người Midianites. Trong thời gian này, Moses cưới con gái của Jethro, Zipporah, và sinh con trai là Gershom.

    40 năm sau, liên quan đến Exodus, theo Sách Xuất Hành 2-3 (Kinh Thánh Hebrew), một lần trong khi Moses dẫn cừu đi sâu vào vùng núi thiêng Sinai (thuộc bán đảo Sinai của Ai Cập ngày nay), bỗng nhiên Thiên Chúa hiện ra ở giữa một bụi gai đang bốc cháy. Rồi Moses nghe tiếng Thiên Chúa nói, “Ta đã thấy nỗi thống khổ của dân ta ở Ai Cập, nơi họ đang bị đối xử như nô lệ. Ta sẽ giải phóng chúng khỏi đất nước tàn bạo đó, và ban cho chúng một mảnh đất khác tốt lành, đượm sữa và mật. Vì thế, ngươi, Moses, phải dẫn dắt dân ta ra khỏi Ai Cập về Miền Đất Hứa”.

    Thế là Moses, cầm theo cây gậy linh thiêng của Thiên Chúa ban cho, cùng với vợ con lên đường trở lại Ai Cập đặng giải thoát dân Do Thái đang bị câu thúc. Biến cố ly kỳ này được ghi lại trong Sách Xuất Hành, mô tả chi tiết hành trình gian truân về Miền Đất Hứa (sử hiện đại gọi cuộc hành trình này là The Exodus) của khoảng bốn chục vạn dân Do Thái, chạy trốn khỏi Ai Cập, vượt qua Biển Đỏ (Red Sea), đi về hướng đông qua nhiều sa mạc hoang vu và lưu lạc ở đó suốt 40 năm, cuối cùng trở về chinh phục vùng đất Canaan mà Thượng Đế đã hứa cho họ từ thời Abraham. Riêng Moses, dù sống thọ đến 120 tuổi, Moses đã không được vào Miền Đất Hứa mà phải chết trong sa mạc.

    Trong hành trình gian truân về Miền Đất Hứa, một sự kiện rất trọng đại đã xảy ra có liên quan đến ‘Mười Điều Răn’ (The Ten Commandments) của Thiên Chúa. Đó là thời điểm khi người Do Thái dừng chân tại vùng núi thiêng Sinai. Từ ngọn núi này, Thiên Chúa đã truyền ban Mười Điều Răn và Lề Luật cho dân Do Thái thông qua Moses. Mười Điều Răn tuyệt đối này, rất căn bản cho đời sống của người Do Thái giáo, được tìm thấy trong Sách Xuất Hành 20:1-17 và Sách Đệ Nhị Luật 5:6-21 của Kinh Thánh Hebrew.

    Trước đây, Thượng Đế giao ước riêng với Abraham, còn lần này, Ngài giao ước với toàn thể dân tộc Do Thái qua những lần Moses lên đỉnh núi Sinai để trực tiếp gặp Ngài. Qua những lần gặp gỡ Thượng Đế, Moses chuyển giao lại cho dân tộc Do Thái các huấn thị của Ngài. Thượng Đế lúc này tỏ lộ danh xưng là ‘YHWH’, gọi là Jehovah, nghĩa là ‘Ta là kẻ ta là’. Và đặc điểm của Giao Ước lần này cũng rất rành rọt, đó là chừng nào dân Ngài chọn còn vâng lời Ngài, chừng đó họ sẽ được Ngài che chở.

    Những tư liệu pháp lý liên quan đến sự kiện trên núi Sinai đã trở thành những tư liệu quan trọng nhất trong Kinh Thánh Hebrew. Theo Sách Sáng Thế, các nguyên lý căn bản của Do Thái giáo thực sự được mặc khải[8] tuần tự theo dòng dõi các tổ phụ, từ Adam đến Jacob. Tuy nhiên, Do Thái giáo thực sự được hình thành như là một tôn giáo chỉ khi Moses nhận lãnh Mười Điều Răn trên núi Sinai, cùng với hệ thống tư tế và các nghi thức thờ phụng tại Ngôi Đền Jerusalem sau khi dân tộc này được giải cứu khỏi Ai Cập.

    Nhiều câu hỏi rằng tại sao Moses lại dẫn dắt đoàn người quẩn quanh trong sa mạc tới 40 năm trước khi trở về Miền Đất Hứa? Làm sao một dân tộc quen sống trong cảnh sung túc rồi chịu làm nô lệ hàng trăm năm có đủ tính cách và bản lĩnh để có thể chinh phục vùng đất trước mặt và xây dựng một quốc gia hùng mạnh trong tương lai? Làm sao Giao Ước của Thượng Đế, vốn thuần túy chỉ là những hứa hẹn, được pháp chế hóa thành luật lệ và thiêng liêng hóa trong những ràng buộc mang tính tôn giáo?

    Theo truyền thống Do Thái giáo, để có đủ năng lực tiếp nhận Miền Đất Hứa và xứng đáng làm người chủ của nó, Moses đã buộc phải dẫn dắt dân Do Thái trải qua những cuộc thanh tẩy đạo đức cùng thao luyện nghiệt ngã trong suốt 40 năm trong sa mạc cho đến khi một thế hệ mới trưởng thành có đủ bản lĩnh để chinh phục Miền Đất Hứa. Moses được mô tả trong Thánh Kinh là một lãnh tụ tôn giáo, người công bố luật pháp, nhà tiên tri đầu tiên của Do Thái giáo. Ông được xem là người viết Kinh Torah (năm sách đầu tiên của Kinh Thánh Hebrew, còn gọi là Ngũ thư Kinh Thánh hay Ngũ kinh Moses) trong quãng thời gian 40 năm trong sa mạc. Moses còn được coi là một thiên tài quân sự và là một vị anh hùng dân tộc của người Do Thái. Buổi đầu sự nghiệp của ông khá giống với vua Cyrus Đại Đế – vị Hoàng đế khởi lập Đế quốc Ba Tư. Ông cùng với vua Cyrus Đại Đế đều đóng vai trò vô cùng lớn lao trong lịch sử của dân tộc mình.

    Trên thực tế, ngoài những hiểu biết dựa theo các tài liệu trong Kinh Thánh Hebrew, chúng ta không có những tư liệu lịch sử đáng tin cậy khác về hành trình của Moses, và vì vậy những câu chuyện trong Kinh Thánh Hebrew cho ta cảm giác về những huyền thoại không xác thực. Chúng ta chỉ có thể phán đoán rằng khi Moses dẫn người Do Thái đến đỉnh núi Sinai thì ông ta chỉ làm theo tập tục lâu đời của người Ai Cập có hàng ngàn năm trước đó trong những cuộc viễn chinh săn tìm đá quí. Câu chuyện về cuộc sống lang thang 40 năm trong sa mạc cũng thế, thoạt nghe tưởng như khó tin, song giờ đây lại có vẻ hợp lý với một dân tộc quen sống du mục; và cuộc chinh phục xứ Canaan nói cho cùng chỉ là trường hợp một bộ tộc du mục đói khát tấn công một cộng đồng định cư yên ổn để giành đất sống. Sau hết, phải chăng cuộc đối thoại giữa Moses và Thượng Đế trên đỉnh núi Sinai cũng chỉ là cách Moses bầy đặt ra để dễ bề cai trị một đám dân du mục gồm hàng ngàn người cứng đầu cứng cổ trong hành trình Exodus đầy gian khó?

    Khi đề cập đến câu chuyện 40 năm này, bà Golda Meir, người “đàn bà sắt” và cũng là thủ tướng thứ tư của Israel [1969-1974], đã có lần nói vui rằng: “Hãy để cho tôi nói cho các bạn nghe về một điều mà tôi chống lại Moses. Đó là ông ta đã dẫn dắt chúng tôi 40 năm lang thang trong sa mạc để rồi cuối cùng đưa chúng tôi đến một vùng đất ở Trung Đông (tức là Canaan) không có lấy một giọt dầu mỏ.”. Quả là một nghịch cảnh.

    Trong những ngày cuối đời, Moses chuyển giao quyền lãnh đạo sang cho Joshua, con một người gác trại thân cận của Moses. Không chỉ là một nhà lãnh đạo quân sự, Joshua giờ có trong tay quyền lực qua phước lành của Moses. Nhưng liệu Joshua có thể tập hợp và gắn kết các bộ tộc với nhau hay không?

    Bài viết được trích từ chương 1 cuốn sách “Câu chuyện Do Thái 2: Văn hóa, Truyền thống và Con người”, của tác giả Đặng Hoàng Xa, dự định xuất bản vào đầu năm 2016.

    Hình: Hành trình của Abraham tới Canaan. Nguồn: Wikipedia.

    (Còn tiếp)

    Xem thêm các phần khác của chuỗi bài tại đây: Lịch sử Do Thái

    ——————

    [1] Jehovah: trong Kinh Thánh Torah, Jehovah là tên riêng của Thượng Đế, như đã mặc khải cho Moses trên núi Sinai [xem “Câu chuyện Do Thái: lịch sử thăng trầm của một dân tộc”].

    [2] Noah: theo Sách Sáng thế, ông Noah đóng con tàu lớn mà ngày nay gọi là tầu Noah để tự cứu ông và gia đình, bảo tồn thế giới động vật, thực vật khỏi bị diệt vong bởi trận trừng phạt đại hồng thủy của Thiên Chúa.

    [3] Mari Letters: là một bộ sưu tập các thư từ hoàng gia từ Mari, một nhà nước thành phố cổ trên sông Euphrates.

    [4] Amarna Letters: thư từ ngoại giao, trên bảng đất sét, chủ yếu giữa chính quyền Ai Cập và đại diện của họ ở Canaan và Amurru trong khoảng thời gian những năm 1300 TCN.

    [5] Semitic là nhóm các ngôn ngữ có liên quan với nhau được nói bởi 470 triệu người tại Tây Á, Bắc Phi, và Sừng châu Phi. Chúng là một nhánh của họ ngôn ngữ Phi-Á. Ngôn ngữ Semitic được nói nhiều nhất hiện nay là tiếng Ả-rập, Amharic, Hebrew, Tygrinia và Aramaic.

    [6] Babylon: một thành quốc của Lưỡng Hà cổ đại, nằm ở Al Hillah, tỉnh Babil, Iraq, khoảng 85 km về phía nam thủ đô Baghdad (Iraq). Tất cả những gì còn lại của thành phố Babylon cổ đại nổi tiếng ngày nay chỉ còn là một gò đất…

    [7] Pharaoh: tước hiệu của vua Ai Cập cổ đại.

    [8] mặc khải: là một từ thần học hay được dùng trong Ki-tô giáo, có nghĩa là vén mở ra bức màn bí mật để cho thấy một điều gì đó.

    [efb_likebox fanpage_url=”DAnghiencuuquocte” box_width=”620″ box_height=”” locale=”en_US” responsive=”0″ show_faces=”1″ show_stream=”0″ hide_cover=”0″ small_header=”0″ hide_cta=”0″ ]

    Vì sao người Do Thái, người Israel thông minh nhất thế giới

    Hàng ngàn năm về trước người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì từ đây có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị người khác cướp đoạt được. Người Do Thái được biết đến là một sắc tộc tôn giáo có nguồn gốc từ vùng đất Israel. Hiện nay người Do Thái sinh sống rải rác trên nhiều quốc gia khác nhau, nhưng chỉ có Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới. Trong bài viết hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu lý do vì sao người Do Thái, người Israel thông minh nhất thế giới.

    Người Do Thái, người Israel thông minh nhất thế giới

    Người gốc Do Thái trên thế giới hiện nay có khoảng gần 13,8 triệu người chiếm 0,19% dân số thế giới vào năm 2013, ước tính cứ khoảng 517 người thì có 1 người Do Thái. Vào khoảng giữa thế kỷ 19, trên thế giới có 1/4 các nhà khoa học là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa các giải Nobel đều rơi vào tay người Do Thái.

    Các tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như là bộ óc thế kỷ: Sigmund Freud, Albert Einstein, Otto Frisch… đều là người Do Thái.

    Sigmund Freud
    Sigmund Freud

    Điều gì làm cho các thế hệ người Do Thái lại có được trí tuệ siêu phàm như vậy (chỉ số IQ trung bình của người Do Thái là 110 cao hơn so với chỉ s trung bình của thế giới là 100). Trong cuốn sách “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu” có lời giải thích cụ thể cho vấn đề trên.

    Vai trò của bà mẹ Do Thái

    Bà mẹ Do Thái đã bắt đầu dạy con ngay từ khi mang thai. Họ thường nghe nhạc, chơi đàn, hát… làm toán cho đến khi sinh con ra. Người phụ nữ Do Thái tin rằng làm vậy đứa bé sau này sẽ trở nên thông minh. Họ chọn chà là, ăn hạnh nhân, uống dầu cá và ăn cá, nhưng tránh ăn đầu cá vì cho rằng tất cả điều đó sẽ giúp cho đứa trẻ nên thông thái.

    Bà mẹ Do Thái đã bắt đầu dạy con ngay từ khi mang thai
    Bà mẹ Do Thái đã bắt đầu dạy con ngay từ khi mang thai

    Từ lúc còn đứa bé, bà mẹ đã tạo cho con mình thói quen thích sách bằng cách nhỏ vài giọt mật lên cuốn sách và cho đứa bé liếm. Khi đó sẽ tạo nên trong nhận thức non nớt của đứa trẻ, sách là thứ gì đó rất ngọt ngào, hấp dẫn.

    Ủy ban công nghiệp của thành phố New York (Mỹ) đã có cuộc điều tra nguồn nhân lực vào năm 1950 và nhận thấy có sự khác biệt rất lớn về việc đi làm công nhân giữa phụ nữ Do Thái và phụ nữ Ý. Phụ nữ Ý thường phải đi làm có khi họ còn bắt con nghỉ học để đi làm phụ giúp gia đình, các bà mẹ Do Thái thì ngược lại. Dù cho kinh tế khó khăn, phụ nữ Do Thái vẫn ở nhà để nuôi dạy con, dồn hết trách nhiệm kiếm tiền nuôi sống gia đình cho chồng.

    Nhờ có sự chăm sóc, động viên từ cha mẹ mà học sinh Do Thái nổi tiếng về thành tích học tập và tính chuyên cần, khác xa với học sinh ở nhiều dân tộc khác. Vào năm 1954, theo thốn kê từ hệ thống trường công của thành phố New York có 28 học sinh với chỉ số IQ cực cao lên đến 170 điểm, thì trong đó có 24 học sinh là người Do Thái. Ngoài ra, những người Do Thái còn quan niệm điểm đã học thì phải hỏi. Chính vì thế, học sinh Do Thái được khuyến khích đặt thật nhiều câu hỏi cho giáo viên của mình.

    Theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích não bộ và đó là lý do vì sao lại có rất nhiều thiên tài là người Do Thái…

    Hệ thống giáo dục phổ thông

    Trong chương trình giáo dục từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên bao gồm kinh doanh, toán học, khoa học. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào những môn thể thao như bắn súng, bắn cung, chạy bộ vì người  Do Thái tin rằng các môn thể thao này sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và chính xác.

    Tại trường trung học, học sinh sẽ giảm dần học về khoa học mà thay vào đó là học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào bài tập thực tế. Dù một số dự án và bài tập có vẻ khá buồn cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi phải sự tập trung nghiêm túc. Đặc biệt nếu đó là các môn thuộc về y học, vũ khí, kỹ sư.

    Vì sao người Do Thái, người Israel thông minh nhất thế giới
    Vì sao người Do Thái, người Israel thông minh nhất thế giới

    Khoa kinh doanh cũng được chú trọng hàng đầu. Trong năm cuối tại các trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ phải hoàn thành nếu nhóm (khoảng 10 người/nhóm) có thể thu về lợi nhuận 1 triệu USD.

    Đừng ngạc nhiên, vì đây là sự thật và đó củng là lý do vì sao một nửa số hoạt động kinh doanh trên thế giới đều là của người Do Thái.

    Xã hội Do Thái từ rất sớm đã coi trọng việc xóa mù chữ, sách và người có học thức

    Người Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới, từ năm 64 đầu Công nguyên nhà thờ ở đây đã quy định tất cả nam giới đều phải biết đọc viết và tính toán, sang đến thế kỷ thứ 2 thì bắt buộc người đàn ông phải có nghĩa vụ trách nhiệm dạy con trai mình biết đọc, viết, tính toán. Như vậy người Do Thái đã thực hiện phổ cập giáo dục cho nam giới trước các dân tộc khác trên thế giời từ mười mấy thế kỷ.

    Vì sao người Do Thái, người Israel thông minh nhất thế giới
    Vì sao người Do Thái, người Israel thông minh nhất thế giới

    Israel cũng là nước đứng đầu thế giới vềsố người đọc sách từ 14 tuổi, đứng đầu về số đầu sách được xuất bản theo đầu dân. Một người Do Thái thành đạt sẽ tranh thủ tận dụng mọi  thời gian để đọc, để học, luôn làm giàu vốn hiểu biết cho bản thân.

    Từ hàng ngàn trước người Do Thái đã xem tri thức đã coi trọng tri thức và đây nhân tố quan trọng giúp người Do Thái đạt được trí thông minh vượt bậc so với phần còn lại của nhân loại.

    Share
    Follow
    Loading...